CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬTVỀXỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN LỰC 1. Khái niệm, đặc điểm và cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực 1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý VPHC năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2013), VPHClà hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC. Đây là một khái niệm đầy đủ về VPHC.
Có thể thấy nội dung của VPHC bao gồm: Là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức vi phạm các quy định pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể của quản lý nhà nước (lám trái, không làm đúng các quy định.) nhưng không phải là tội phạm (mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơnmức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội), có lỗi (cố ý hoặc vô ý); Hành vi đó phải được pháp luật quy định là bị xử phạt VPHC (quy định chung trong Luật xử lý VPHC, quy định cụ thể trong các Nghị định quy định về xử phạt trong từng lĩnh vực cụ thể và các văn bản hướng dẫn thi hành khác). Từ đó, có thể hiểu, “VPHC trong LVĐL là hành vi trái pháp luật liên quan đến LVĐL do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện với lỗi vô ý hoặc cố ý xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước trong LVĐLvà theo quy định của pháp luật phải bị áp dụng chế tài hành chính” [22]. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực Vi phạm hành chính trong LVĐL trước hết cũng mang đầy đủ các đặc điểm của VPHC nói chung gồm: phải được thể hiện bằng hành vi (dưới dạng hành động hoặc không hành động); mang tính có lỗi (cố ý hoặc vô ý); do cá nhân, tổ chức thực hiện; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp 7 của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhưng không phải là tội phạm và sẽ phải bị xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật. Ngoài đặc điểm chung nêu trên, VPHC trong LVĐL có đặc điểm riêng về HVVPmang tính đặc thù của LVĐL và được quy địnhtrong Nghị định 134/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong LVĐL an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Nghị định số 17/2022/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và vảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoạt động dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí, theo đó, các nhóm HVVP trong LVĐLgồm: (i) nhóm HVVP quy định về giấy phép hoạt động điện lực;(ii) nhóm HVVP quy định về xây dựng, lắp đặt công trình điện;(iii) nhóm HVVP quy định về hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện;(iv) nhóm HVVP quy định về hoạt động phân phối điện; (v) nhóm HVVP quy định về hoạt động bán buôn biện, bán lẻ điện; (vi) nhóm HVVP quy định về sử dụng điện; (vii) nhóm HVVP quy định về an toàn điện; (viii) nhóm HVVP quy định về điều độ hệ thống điện; (ix) nhóm HVVP quy định về thị trường điện lực; (x) nhóm HVVP quy định về vận hành an toàn đập, hồ chứa thủy điện, về bảo đảm an toàn đập thủy điện và vùng hạ du; (xi) nhóm HVVP quy định về bảo đảm an toàn vùng phụ cận bảo vệ đập thủy điện; (xii) nhóm HVVP quy định về kiểm toán năng lượng; (xiii) nhóm HVVP quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, sản xuất nông nghiệp; (xiv) nhóm HVVP quy định về quản lý và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; (xv) nhóm HVVP quy định về nhãn năng lượng trong hoạt động sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, phân phối phương tiện, thiết bị tiêu thụ năng lượng; (xvi) nhóm HVVP quy định về sản xuất, nhập khẩu, lưu thông phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ và dán nhãn năng lượng; (xvii) nhóm HVVP quy định về định mức sử dụng năng 8 lượng trong sản xuất, kinh doanh; (xviii) nhóm HVVP quy định về chế độ báo cáo sử dụng năng lượng, mua sắm của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.
Cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực 1. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực Điều đầu tiên để nhận diện một vi phạm pháp luật là dựa vào mặt khách quan của nó. Đó là toàn bộ "sự thật" tồn tại của sự tác động trực tiếp hay gián tiếp trong cơ chế HVVP và vì vậy nó cung cấp đầy đủ, trung thực và khách quan nhất những cơ sở cho việc xem xét các yếu tố còn lại. Sự thật chỉ có một, nhưng những trạng thái diễn biến thay đổi thì vô cùng.
"Sự thật" nói tới ở đây bao gồm những nội dung: Hành vi trái pháp luật; Hậu quả của hành vi đó; Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; Các yếu tố bên ngoài khác như: thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện. Hậu quả của hành vi: Theo diễn biến thông thường của quá trình hiện thực hóa hành vi thì trình tự của vi phạm xảy ra theo trật tự 1, 2, 3 nêu trên nhưng "hiện trường" mà hành vi để lại và luôn có thể xác định được lại là dấu hiệu hậu quả và như vậy, muốn tìm hiểu "sự thật" thì phải xét quá trình ngược: từ hậu quả đến hành vi và tìm mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả vì hậu quả là trạng thái thực tế của sự biến đổi khách quan, là kết quả do sự tác động của hành vi lên các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ để lại. Hậu quả lớn hay nhỏ, nhiều hay ít sẽ thể hiện mức độ tác động trái pháp luật của hành vi. Hậu quả ở đây thường được đồng nhất với thiệt hại cho xã hội mà vi phạm pháp luật gây ra.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Nhiều khi "hậu quả mà hành vi gây ra lại là một kết quả có ích cho xã hội- cái mà nhà làm luật đã "không lường trước" được khi quy định tính trái pháp luật cho hành vi. Vì vậy, việc xác định tính trái pháp luật và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phải được nhìn nhận ở hai góc độ khác nhau. Góc độ thứ nhất là xem trạng thái biến đổi của quan hệ xã hội do tác động của hành vi.
Góc độ thứ hai là xem lại cơ sở xác định tính trái pháp luật của hành vi khi xây dựng luật. 9 Từ góc độ thứ nhất, có thể thấy trạng thái của biến đổi xã hội do tác động của hành vi theo hướng tích cực hay tiêu cực, ta thường xét hậu quả theo hướng tiêu cực, tức là mức độ gây hại của hành vi, giúp ích cho việc đánh giá mức độ trách nhiệm pháp lý tương ứng. Tất nhiên, mức độ gây hại càng cao thì trách nhiệm pháp lý càng lớn. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định cấu thành tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm pháp luật (nhiều, ít hay chưa có thiệt hại thực tế).
Cũng cần nói tới trạng thái biến đổi của các quan hệ pháp luật bị tác động bởi hành vi trái pháp luật để phân biệt các vi phạm pháp luật cấu thành hình thức hay cấu thành vật chất. Hậu quả trong thực tế không phải bao giờ cũng "vật chất hóa" được dưới các dạng có thể cân, đong, đo, đếm mang tính định lượng. Hậu quả ở đây chỉ mới dừng lại ở nguy cơ gây thiệt hại thực tế, trạng thái biến đổi của quan hệ xã hội bị xâm hại được thể hiện dưới dạng là sự tôn nghiêm của pháp luật đã bị xem thường, trật tự pháp luật bị phá vỡ, uy quyền của Nhà nước không được tôn trọng. Xem xét hậu quả của hành vi dưới góc độ này thì vừa xác được tính trái pháp luật, vừa xác định được mức độ nguy hiểm của hành vi.
Theo góc độ thứ hai thì có thể thấy được tư tưởng và kỹ thuật pháp lý của nhà làm luật khi xác tính trái pháp luật cho một hành vi nào đó. Như đã nói ở trên, không phải bao giờ trạng thái biến đổi của quan hệ xã hội do hành vi trái pháp luật cũng có ý nghĩa tiêu cực, mang lại kết quả xấu. Khi xét trạng thái biến đổi đó, ta nên xuất phát từ các cơ sở xác định tính trái pháp luật củaHVVP. Nếu chỉ nhân danh lợi ích Nhà nước, trật tự xã hội một cách thái quá sẽ triệt tiêu tự do cá nhân và hơn nữa làm mất khả năng sáng tạo của con người, biến con người thành một cái máy chỉ biết thực hiện các "lệnh” và mang tính thụ động.Ngược lại, quá đề cao quyền tự do cá nhân thì lợi ích Nhà nước, xã hội sẽ khó bề kiểm soát.
Nhìn dưới góc độ thứ hai này thì hậu quả của hành vi trái pháp luật chính là một thực tế kiểm nghiệm mức độ hợp lý của các quy phạm pháp luật xác định tính trái pháp luật của một hành vi. Tóm lại, cần xác định rõ hậu quả của HVVP quản lý hành chính về điện lực để kiểm nghiệm tính trái pháp luật của hành vi. Hành vi trái pháp luật: 10 Sau khi xét các biểu hiện của hậu quả để truy cứu trách nhiệm pháp lý, ta tìm ngược lại hành vi, nguyên nhân gây ra hậu quả. Hậu quả không phải bao giờ cũng có thể nhận thức được khi nó không được "vật chất hóa" bằng các thiệt hại xảy ra trong thực tế.
Đây là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng vi phạm pháp luật ẩn do không hoặc khó xác định được hành vi, đặc biệt là dạng hành vi không hành động. Do vậy, việc xác định hành vi trái pháp luật phải dựa vào tính chất biến đổi của quan hệ xã hội bị tác động (kể cả trong cơ chế tác động chủ động hay bị động như đã phân tích ở phần cơ chế của HVVP.