Chương 1: VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO THỜI KỲ LÝ - TRẦN 1. Khái niệm văn hóa Phật giáo và những biểu hiện của văn hóa Phật giáo 1. Khái niệm văn hóa Phật giáo * Một số khái niệm về văn hóa Theo các nhà ngôn ngữ học, từ văn hóa (culture), với tư cách là một danh từ độc lập, chỉ bắt đầu được sử dụng ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII. Mặc dầu trước đó rất lâu, khoảng thế kỷ II trước Công nguyên, ở La Mã, nhà triết học M.
Xixêron đã gắn văn hóa với hoạt động trí tuệ của con người, để sau đó, văn hóa được chuyển nghĩa từ “gieo trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc”1. Tuy nhiên, khi thời cổ đại suy tàn, từ ngữ này không được sử dụng nữa, mãi đến thế kỷ XVII, nó mới được hồi sinh trở lại trong vốn từ vựng của châu Âu. Người đầu tiên có công đưa từ “culture” vào khoa học là S. Pufendorf (1632 - 1694), nhà nghiên cứu pháp luật người Đức.
Pufendorf sử dụng từ ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra và các sản phẩm nhân tạo này khác với các sản vật tự nhiên, tựa như con người được giáo dục khác với con người không có giáo dục. Ở Ý, nhà xã hội học, đồng thời là nhà triết học G. Vico (1668 - 1744), quan niệm rằng, nếu như cuộc đời của con người có các thời kỳ phát triển khác nhau thì, tất cả các dân tộc cũng phát triển qua các thời đại không giống nhau về văn hóa. Trong các trước tác của mình, ông coi văn 1 Theo tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, từ Culture có 2 nghĩa: 1.
Tiếng Hán, từ văn hóa có nghĩa là làm cho trở thành văn, hóa thành văn (văn ở đây được hiểu là văn tự, văn đức). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa như một phức thể, trong đó bao gồm cả kinh tế, chính trị, khoa học và nghệ thuật. Cũng ở giai đoạn này, P. Voltare (1694 - 1778), nhà văn, nhà triết học, nhà sử học, đồng thời cũng là một trong những lãnh tụ của phong trào khai sáng Pháp, đã nhắc tới văn hóa khi bàn về sự phát triển của khoa học, nghệ thuật, đạo đức, nhà nước, pháp luật, thủ công, buôn bán.
Ông tán thành ý kiến cho rằng, lịch sử của loài người là lịch sử xã hội, lịch sử văn hóa, chứ không phải là lịch sử của các vương triều. Herder (1744 - 1803), nhà triết học khai sáng, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Đức thì từ ngữ “văn hóa” đã được sử dụng rộng rãi. Dựa trên những cơ sở khoa học về sự tiến hoá trong tự nhiên, Herder đã phát triển quan niệm về sự tiến bộ trong lịch sử và sự vận động của xã hội đến Chủ nghĩa nhân đạo. Ông gọi văn hóa là quá trình hình thành con người, là sự nắm bắt và sử dụng kinh nghiệm truyền thống, cho nên cần phải gắn văn hóa với vệc giáo dục tính nhân văn và lối sống của dân tộc.
Chỉ trong quá trình hình thành văn hoá thì sinh thể người mới thành con người theo đúng nghĩa của nó. Và sự hình thành văn hóa, theo Herder, phụ thuộc không chỉ vào các điều kiện khách quan của tự nhiên và xã hội, mà còn phụ thuộc vào quá trình lao động như là sự nỗ lực chủ quan của con người. Kế thừa những quan điểm tiến bộ trong văn hóa học phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dựa trên cơ sở của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, các nhà triết học, văn hóa học Xô Viết đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về văn hóa với 3 hướng tiếp cận chủ yếu: Hướng tiếp cận giá trị, xem văn hóa như tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được con người sáng tạo ra khác với thiên nhiên. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hướng tiếp cận hoạt động lại khẳng định hoạt động chứ không phải những giá trị được coi là yếu tố căn bản của văn hóa.
Hướng tiếp cận nhân cách, xem văn hóa như một phạm trù, một thuộc tính của nhân cách. Văn hóa hướng vào việc phát triển những năng lực con người, bộc lộ trình độ phát triển của con người. Những hướng tiếp cận trên đi sâu vào một khía cạnh hết sức sâu sắc của văn hóa, song cũng không tránh khỏi phiến diện. Bởi vậy, việc tổng hợp cả ba hướng tiếp cận ấy sẽ đưa đến một cái nhìn toàn diện về văn hóa.
Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu: * Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục…). Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội [55; 10]. * Ở phương Đông, khái niệm “văn” trong Thư tịch cổ Trung Hoa có hàm nghĩa là văn tự, văn giáo, văn đức, chỉnh trang, nhân tạo… Khổng tử coi “văn” là một trong bốn môn giáo dưỡng con người.
Sau đó, khái niệm này được mở rộng dần về nghĩa khí. Người ta nói đến “văn tự” và “giáo hóa” hay “văn vũ chi trị”. Dưới triều nhà Hán, Lưu Hướng đã từng nói, đối với một sự bất ổn nào đó, trước hết dùng văn hóa mà vẫn không sửa mới dùng hình phạt. * Từ văn hóa của Trung Hoa mang tính khái quát cao.
Họ dùng hai chữ văn ( ) hóa ( ) vốn được ghép bởi hai từ: văn trị (cai trị bằng văn) và giáo hóa (giáo dục để biến đổi). Mà văn thì từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, Tuân tử - học trò của Khổng Tử đã giải thích: văn là ngụy ( ). 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chữ ngụy ngày nay đã chuyển nghĩa là dối, giả, giặc (theo từ điển của Đào Duy Anh). Nguyên thủy của nó là cái làm ra, không phải cái tự nhiên.
Vì vậy, chữ ngụy được ghi theo ý gồm nhân (nhân = người) và vi (vi = làm). Sau này, chính C. Mác đã gọi văn hóa là “thiên nhiên thứ hai”, tức là thiên nhiên được “nhân hóa”, được con người sáng tạo theo “qui luật cái đẹp”. Một cái cây mọc tự nhiên ở ngoài rừng là tự nhiên, nhưng người trồng cây cảnh đưa về trồng trong chậu, cắt tỉa uốn thành các thế: mẫu tử, tam đa, ngũ đại…, thì đó là văn hóa.
Để cho đôi môi tự nhiên không nhợt nhạt, người ta đánh phấn tô son cho nó đẹp cũng là văn hóa. Do đó không có văn hóa đồi trụy (bởi vì đã là văn hóa thì phải đẹp), mà chỉ có vô văn hóa hay phản văn hóa, cũng như chúng ta nói phản cách mạng, chứ không ai nói cách mạng đồi trụy. Từ “văn hóa” cổ xuất hiện sớm nhất trong Chu dịch với câu “Quan ư nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”. Sau này Khổng Đinh Đạt đời Đường đã giải thích câu đó là: thánh nhân quan sát nhân văn, lấy thi, thư, lễ, nhạc làm phép tắc, và dùng nó để giáo hóa mà làm cho thiên hạ được khai hóa.
Và đó là luật trị quốc của người Hán “Văn vũ chi trị”. Về sau, trên cơ sở cái nghĩa của văn, người ta mở rộng dần nghĩa theo ngoại diên của nó. Cố Viêm Vũ thời Minh - Thanh cho rằng từ thể xác và tâm hồn một con người cho đến gia đình, nhà nước, thiên hạ, tất cả mọi quy chế, âm thanh, hình tượng, không có cái gì không thuộc văn hóa, bởi lẽ văn hóa là để dạy cho con người biết “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” [63; 117 - 120]. Và vì thế theo Mạnh Tử thì, dạy tốt hơn là cai trị tốt.
Với các định nghĩa trên, văn hóa được nhìn nhận trên ba nội dung cơ bản: Hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do người sáng tạo ra, được lưu truyền, tích lũy trong lịch sử của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc cũng như toàn nhân loại, chúng hợp thành cái văn hóa khác với cái tự nhiên. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của văn hóa. Văn hóa là thước đo trình độ phát triển và thể hiện những định tính riêng của mỗi dân tộc. Còn trong mối quan hệ giữa con người và văn hóa thì con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là sản phẩm của văn hóa, đồng thời cũng là đại biểu mang giá trị văn hóa.
Tuy nhiên, việc dùng từ gốc Hán là văn hóa để dịch culture của phương Tây lại không phải do người Trung Quốc thực hiện. Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch cho rằng “có nhiều tài liệu đã chỉ rõ, từ văn hóa là do người Nhật mượn từ Hán để chuyển dịch từ culture của phương Tây, sau đó các sách báo hiện đại của Trung Quốc cũng dùng theo”. Ông còn cho biết, chính các tác giả Trung Quốc, trong sách Trung Quốc Văn hóa sử tam bách đề đã viết từ văn hóa vốn được chuyển dịch từ từ ngữ phương Tây qua Nhật văn vào cuối thế kỷ XIX[36;112]. Ở Việt Nam, chưa ai nói rõ khái niệm văn hóa được du nhập vào từ bao giờ.
Có thế là cuối thế kỷ XIX? hay đầu thế kỷ XX?, chỉ biết rằng, trước các thời điểm này rất lâu, Việt Nam đã xây dựng được nền văn hóa riêng của mình. Không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học Toynbee khi nghiên cứu về các nền văn minh đã xếp Việt Nam là một nền văn minh riêng trong 34 nền văn minh của nhân loại, bên cạnh các nền văn minh lớn như: Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, Lưỡng Hà… Trở lại vấn đề đang bàn, mặc dù chưa dùng khái niệm văn hóa, song trong vốn từ vựng của mình, ông cha ta đã dùng một cách phổ biến các khái niệm văn hiến và văn vật như trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (năm 1428): Duy ngã Đại Việt chi quốc Thực vi văn hiến chi bang Nghĩa là: Như nước Đại Việt ta từ trước 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Phương Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung quốc và những nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này.