Mở đầu Chƣơng 1: Thấm và ăn mòn các công trình bằng bê tông cốt thép, thực tế ở Việt Nam Chƣơng 2: Sử dụng phụ gia chống thấm cho bê tông trong các công trình cầu Chƣơng 3: Thí nghiệm xác định ảnh hƣởng của tải trọng đến độ thấm clorua của bê tông làm cầu sử dụng phụ gia chống thấm nƣớc 3 CHƢƠNG 1: THẤM VÀ ĂN MÒN CÁC CÔNG TRÌNH BẰNG BÊ TÔNG CỐT THÉP, THỰC TẾ Ở VIỆT NAM 1.1 Thấm của chất lƣu qua bê tông [4] 1. Khái niệm Độ thấm đƣợc định nghĩa là khả năng cho phép các chất lƣu thẩm thấu qua của một môi trƣờng rỗng do sự chênh lệch thế năng. Độ thấm của bê tông, một loại vật liệu rỗng phụ thuộc nhiều vào các tham số của môi trƣờng bê tông nhƣ độ rỗng, độ ngoằn ngoèo của các lỗ rỗng và tính thông nhau giữa các lỗ rỗng. Khi độ rỗng và độ thông nhau giữa các lỗ rỗng trong bê tông tăng lên, độ bền chống thấm của bê tông bị giảm xuống; và khi các lỗ rỗng càng thẳng, dòng chảy thấm có tốc độ càng nhanh.
Dƣới tác động cơ học hoặc nhiệt độ đủ lớn, sự phá hủy trong bê tông kèm theo các đƣờng nứt làm gia tăng các thông số trên, độ thấm của bê tông vì vậy cũng sẽ tăng nhanh. Độ thấm của bê tông phụ thuộc vào các thành phần cấu thành nên bê tông (dạng, tỷ lệ) bao gồm: - Nƣớc / xi măng: liên quan trực tiếp đến độ rỗng mao dẫn. - Bản chất và tỷ lệ các loại cốt liệu sử dụng: liên quan đến việc hình thành các vùng liên kết giữa đá xi măng và các hạt cốt liệu cũng nhƣ thay đổi tính ngoằn ngoèo của các đƣờng rỗng. - Các chất độn, phụ gia… Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của không gian rỗng đến cƣờng độ và độ thấm của bê tông cho thấy, cƣờng độ bê tông phụ thuộc vào tỷ lệ rỗng của vật liệu; tuy nhiên, độ thấm lại phụ thuộc chủ yếu vào tính liên thông giữa các lỗ rỗng.
Một khi bê tông có tính liên thông rỗng cao do các đƣờng nứt xuất hiện vì nhiều nguyên nhân (co ngót, từ biến, tác động cơ học, nhiệt độ cao, ăn mòn…) trong quá trình khai thác thì độ thấm của bê tông tăng rất nhanh. Sự chênh lệch về độ ẩm, của áp lực thủy tĩnh, của ứng suất, nhiệt độ và của nồng độ các hóa chất làm xáo trộn trạng thái cân bằng của chất lƣu trong vật liệu rỗng; vì vậy sự di chuyển của dòng lƣu chất xảy ra để thiết lập lại sự 4 cân bằng mới. Quá trình di chuyển của dòng lƣu chất này thông thƣờng đƣợc mô tả ở các phƣơng diện nhƣ hút bám, khuếch tán, hấp thụ và thấm. Trong bê tông, cả cấu trúc vật lý của bê tông và trạng thái của nƣớc trong lỗ rỗng ảnh hƣởng đến những quá trình này.
Thủy động học của các vật liệu rỗng xem xét phần rỗng nhƣ là một thể liên tục với mục đích thiết lập các phƣơng trình mô tả các quá trình di chuyển của dòng chất lƣu. Các mô tả lý thuyết của các quá trình dịch chuyển của chất lƣu thƣờng là cơ sở để đo đạc các tính chất của dòng chảy trong bê tông. Tuy vậy, các quy luật thực nghiệm về dòng chảy của chất lƣu nhƣ luật thấm Darcy, phƣơng trình Poiseuille hay các luật thấm liên tục thƣờng đƣợc sử dụng rộng rãi để mô tả quá trình thấm của chất lƣu qua bê tông. Cơ chế thấm của chất lƣu qua qua môi trƣờng rỗng Lớp hút bám Giai đoạn (a) – Hút bám Giai đoạn (b) – Khuếch tán hơi nƣớc Giai đoạn (c) – Di chuyển hơi lẫn nƣớc Giai đoạn (d) – Mặt từ biến có nhiều di chuyển hơi chứa nƣớc Giai đoạn (e) – Dòng nƣớc Giai đoạn (f) – Dòng chất bão hòa không đảm bảo 5 Giai đoạn (g) –Khuếch tán của Giai đoạn (h) – Các ion khuếch các ion qua các lỗ rỗng tán qua các lỗ rỗng bão hòa Chú thích Dòng hơi Dòng chất lỏng Pha hút bám Hình 1.
Các giai đoạn chuyển dịch của chất lỏng qua môi trường rỗng Có 6 giai đoạn trong quá trình dịch chuyển của dòng chất lỏng qua một môi trƣờng rỗng nhƣ trên hình 1. Các giai đoạn khác nhau đƣợc giải thích nhƣ sau: Giai đoạn a Là giai đoạn của sự hút bám và đến khi nó kết thúc, dòng hơi nƣớc không thể truyền qua vật liệu mặc dù dòng này sẽ di chuyển đến những vùng hút bám ở dạng hơi nƣớc. Giai đoạn b Là giai đoạn của sự di chuyển bị cản trở của hơi nƣớc khi mà hơi nƣớc ứng xử nhƣ là một khí lý tƣởng. Điều này đƣợc trình bày trong định luật thứ nhất về khuếch tán của Fick: Với: JX : lƣu lƣợng dòng chảy tại vị trí x theo phƣơng x tính từ gốc; DX : hệ số khuếch tán tại vị trí x; cC/cX : gradient nồng độ tại vị trí x.
Giai đoạn c, d Các giai đoạn c và d xảy ra khi các chỗ co hẹp mặt cắt chứa chất lỏng, có thể có một màng mỏng hoặc không, với chiều dày đáng kể trên thành khoang. Trong giai đoạn c, hệ thống không thấm đối với khí trơ và thấm đối với chất lỏng chỉ bởi quá trình chƣng cất, trong đó các chỗ co hẹp mặt cắt có vai trò ngăn cản dòng di chuyển của hơi nƣớc. Quá trình này đƣợc giải thích là do chất lỏng đƣợc hỗ trợ bởi sự truyền hơi nƣớc, sự hỗ trợ tăng lên bởi vì các chất lỏng làm ngắn chiều dài đƣờng đi hữu hiệu của hơi nƣớc khuếch tán. Trong giai đoạn d, điều kiện là sự từ biến bề mặt (nghĩa là dòng chảy bên trong các màng chất lỏng) trong đó có hơi nƣớc đƣợc hỗ trợ bởi sự truyền chất lỏng.
Sự khác nhau quan trọng giữa giai đoạn d và e trong hình 1.2 là việc bỏ qua các mũi tên và xem hình vẽ nhƣ là mô tả một sự cân bằng động. Giai đoạn e Trong giai đoạn e, mặt tiếp xúc giữa chất khí và nƣớc sẽ có cùng độ cong ở mọi nơi, nhƣng ở giai đoạn d, độ cong ở xa các chỗ co hẹp đƣợc xác định chủ yếu bởi hình dạng của bề mặt. Do dòng chảy xảy ra trong lỗ rỗng do chênh lệch áp suất ngang qua mặt tiếp xúc ở giai đoạn e, lƣu lƣợng dòng chảy đƣợc cho bởi phƣơng trình Washburn: Với: : lƣu lƣợng dòng chảy; r: bán kính của lỗ mao dẫn; : sức căng bề mặt; d: chiều sâu xuyên của chất lỏng; µ: độ nhớt của chất lỏng; 7 : góc tiếp xúc. Giai đoạn f Dòng chảy trong giai đoạn f, nghĩa là trong điều kiện bão hòa, là do một cột áp lực cao tồn tại trong lỗ rỗng, do đó lƣu lƣợng bị khống chế bởi luật thấm Darcy.
Thêm vào các giai đoạn từ a đến f, sự khuếch tán ion có thể xảy ra trong các giai đoạn e và f giống nhƣ minh họa trong các giai đoạn g và h. Sự khuếch tán ion cũng bị khống chế bởi định luật thứ nhất của Fick. Ăn mòn kết cấu bê tông cốt thép có nguyên nhân từ thấm clorua qua bê tông 1. Ăn mòn hóa học của bê tông[4] * Ăn mòn bê tông do sự hòa tan các sản phẩm thủy hóa của xi măng Quá trình này xảy ra do sự hòa tan của các sản phẩm của thủy hóa xi măng, chủ yếu là hydroxyt canxi (Ca(OH)2) và aluminat canxi ngậm nƣớc (CaO.Ca(OH)2 trong bê tông phản ứng với CO2 ngoài không khí để tạo CaCO3 - Ảnh chụp trong đập tràn Nhà máy thủy điện Hoà Bình 8 Trong không khí luôn có khí CO2 và hơi nƣớc, nếu bê tông bị phá hủy hoặc bị nứt thì hydroxyt canxi Ca(OH)2 sẽ bị thấm ra ngoài và phản ứng với CO2 và nƣớc tạo ra đá xi măng CaCO3.
Loại ăn mòn này còn đƣợc gọi là quá trình khử kiềm trong bê tông (sự chết trắng của bê tông) làm giảm độ pH trong bê tông và thúc đẩy quá trình ăn mòn cốt thép. Ăn mòn do sự hòa tan các sản phẩm thủy hóa của xi măng phụ thuộc vào thành phần hóa học của xi măng. Khi hàm lƣợng C3S và C2S trong xi măng cao thì ăn mòn mạnh hơn. Các yếu tố nhƣ loại và hàm lƣợng phụ gia, thời gian đông cứng, điều kiện bảo dƣỡng cũng ảnh hƣởng đáng kể đến dạng ăn mòn này.
Dạng ăn mòn này có liên hệ mật thiết với độ thấm nƣớc của bê tông, vì có sự thấm nƣớc mà vôi ở bên trong bê tông mới có thể thấm ra bên ngoài. * Ăn mòn bê tông do các phản ứng của đá xi măng với môi trường Là do các phản ứng trao đổi giữa nƣớc chứa các chất hóa học xâm thực (axit, muối) và các thành phần của đá ximăng gây ra. Những sản phẩm phản ứng tạo thành bị hòa tan và bị nƣớc mang đi, hoặc bị tách ra dạng khối vô định hình dạng xốp. Trong số các tác nhân gây ăn mòn loại này thí axit là tác nhân phá hoại mạnh nhất, tiếp theo là muối axit và các hợp chất có khả năng tƣơng tác với các sản phẩm thủy hóa của xi măng có tính hoạt động hóa học mạnh.
Ăn mòn do axit cacbonic đƣợc biểu thị bằng tƣơng tác của CO2 trong nƣớc với Ca(OH)2. Ban đầu đá vôi CaCO3 đƣợc sinh ra, bám ở mặt ngoài bê tông, tạm thời làm là tăng độ bền của bê tông. Tuy nhiên, đá vôi lại tƣơng tác tiếp với khí cácbonic và nƣớc để tạo thành Ca(HCO3)2, là chất có độ hòa tan mạnh. Các phản ứng hóa học xảy ra trong quá trình ăn mòn bê tông do axit cacbonic nhƣ sau: CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O (1.3) CaCO3 + CO2 + H2O Ca(HCO3)2 (1.4) Ăn mòn do các axit khác nhƣ HCl, H2SO4, HNO3 và các axit hữu cơ nhƣ axit lactic, axit axetic cũng diễn ra tƣơng tự.
Các phản ứng hóa học hòa tan Ca(OH)2 nhƣ sau: 9 Ca(OH)2 + 2HCl = CaCl2 + 2H2O (1.5) Ca(OH)2 + H2SO4 = CaSO4 + 2H2O (1.7) CaCl2, Ca(NO3)2 là các muối có độ hòa tan mạnh. Còn CaSO4 sẽ tác dụng với 3CaO.6H2O để sinh Ettringit gây trƣơng nở thể tích đá xi măng và làm phá vỡ cấu trúc của đá ximăng. Ăn mòn do các hợp chất chứa magiê nhƣ MgSO4 và MgCl2 phản ứng với Ca(OH)2 nhƣ sau: MgSO4 + Ca(OH)2 + 2H2O = CaSO4.9) Trong đó, muối CaCl2 có độ hòa tan mạnh còn CaSO4 tạo thành Ettringit nhƣ đã nêu ở trên. Chất kiềm Mg(OH)2 là chất rời rạc, không có tính dính kết, làm suy giảm cấu trúc bêtông.