Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sinh kế và sinh kế bền vững 1. Sinh kế Theo từ điển thì sinh kế (Livelihood) là một cách để sống và nó không đồng nghĩa với từ thu nhập, nó chủ yếu chú ý tới cách thức mà con người kiếm sống.
Theo định nghĩa của của Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFID) năm 1999: “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất, xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”. Vào năm 1992, Chamber and Conway đã cho rằng: Một sinh kế bao gồm khả năng (capacity), tài sản (assets) - các nguồn dự trữ, các nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếp cận và các hoạt động cần có cho một cách thức kiếm sống. Theo DFID: có thể miêu tả sinh kế như là sự kết hợp các hoạt động được thực hiện dựa trên việc sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống. Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính, và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội).
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau về sinh kế, tuy nhiên khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình hay một cộng đồng dân cư. Hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình hay một cộng đồng dân cư tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các cơ chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng. Nguồn lực sinh kế hay vốn sinh kế, tài sản sinh kế được chia làm năm loại sau: - Thứ nhất, nguồn lực con người: Là kiến thức, khả năng, trình độ kỹ năng làm việc và sức khỏe để giúp con người trong quá trình thực hiện những hoạt động sinh kế khác nhau và đạt được kết quả sinh kế. Với mỗi hộ gia đình, vốn con người là một nhân tố về lượng và chất của lực lượng lao động trong gia đình, nó khác nhau tùy vào quy mô của PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 hộ, kỹ năng, học vấn, khả năng quản lý gia đình, tình hình sức khỏe.
Vốn con người là điều kiện cần để có thể sử dụng được bốn loại tài sản còn lại. - Thứ hai, nguồn lực xã hội: Là một loại tài sản sinh kế, nó nằm trong các mối quan hệ xã hội chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực hiện các hoạt động sinh kế của họ. Những nguồn lực xã hội này có được qua việc đầu tư, hợp tác cùng nhau để tăng khả năng làm việc; là các thành viên của các nhóm không chính thức trong đó các mối quan hệ tuân theo những quy định và luật lệ đã được thống nhất. Vốn xã hội mang lại những kết quả quan trọng là khả năng tiếp cận thông tin, khả năng có những ảnh hưởng hoặc quyền lực, khả năng đòi hỏi và tuyên bố trách nhiệm hỗ trợ từ người khác.
- Thứ ba, nguồn lực tài chính: Là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng để đạt tới các mục tiêu trong sinh kế. Các nguồn đó bao gồm: - Nguồn dự trữ hiện tại: Tiết kiệm, có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hoặc các tài sản khác như vật nuôi, đồ trang sức. - Dòng tiền theo định kỳ từ nguồn thu nhập kiếm được như chế độ lương hưu hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiền thân nhân gửi về. - Thứ tư, nguồn lực tự nhiên: Là khả năng lưu giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà con người trông cậy vào.
Đó là nguồn dự trữ cho lợi ích trực tiếp và gián tiếp: cây và đất cho lợi ích trực tiếp qua việc đóng góp cho nguồn thu nhập và các điều kiện vật chất của con người; lợi ích gián tiếp mà chúng mang lại bao gồm các chu trình tạo dinh dưỡng và bảo vệ chống xói mòn, bão gió. - Thứ năm, nguồn lực vật chất: Là một loại tài sản sinh kế, nó bao gồm phần cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất để thực hiện sinh kế. Cơ sở hạ tầng ở đây bao gồm những thay đổi trong môi trường vật chất giúp người dân đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ và nâng cao khả năng sản xuất. Cơ sở hạ tầng bao gồm: các hệ thống giao thông, cấp nước và vệ sinh, năng lượng, liên lạc và khả năng tiếp cận thông tin.
Các phần khác của vốn vật chất bao gồm vốn sản xuất để đẩy mạnh thu nhập như hàng hóa, đồ dùng của hộ, đồ dùng cá nhân hay nhóm hộ. Sinh kế bền vững PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên. Tiêu chí sinh kế bền vững bao gồm: ổn định thu nhập, an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, an toàn trong các mối quan hệ xã hội khác thông qua thể chế, chính sách (Theo DFID, 2001). a) Sự bền vững Bền vững không có nghĩa là sẽ không có gì thay đổi, mà là có khả năng thích ứng, thích nghi theo thời gian.
Tính bền vững là một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp sinh kế bền vững (theo DFID). Các yếu tố được xem là bền vững chỉ khi có thể tiếp tục diễn ra trong tương lai, ứng phó và phục hồi được sau các áp lực mà không làm huỷ hoại các nguồn lực tạo nên sự tồn tại của yếu tố này. Các nguồn lực này có thể thuộc nguồn tự nhiên, xã hội, kinh tế hay thể chế. Điều này giải thích tại sao tính bền vững thường được phân tích theo bốn khía cạnh: bền vững về kinh tế, về môi trường, về thể chế và xã hội.
b) Sinh kế bền vững Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Reardon và Taylor, 1989). Phương pháp sinh kế bền vững tạo ra cơ hội cải thiện các nỗ lực giảm nghèo bằng cách đưa ra cái nhìn tổng quan tình trạng của người nghèo như chính họ đang đánh giá họ chứ không phải là đưa ra các kết luận chủ quan, nông nổi, rời rạc. Tuy nhiên, ngày nay con người càng chú trọng đến sự bền vững và biết khả năng bền vững là khả năng tiếp tục trong tương lai, chống đỡ và phục hồi từ những áp lực và những cú sốc, trong khi vẫn không ngừng gây tổn hại đến những nguồn lực mà con người dựa vào đó để tồn tại. Một sinh kế là bền vững khi nó có khả năng liên tục duy trì hay cũng cố mức sống ở hiện tại mà không làm huỷ hoại cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Để có được diều này, sinh kế bền vững phải có khả năng vượt qua và hồi phục sau các áp lực và sốc (ví dụ như các tai họa thiên tai hay suy thoái kinh tế) (theo DFID). Sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư. Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực con người, vật chất, tự nhiên, tài chính và xã hội.
Tổ chức phát triển toàn cầu của vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế bền vững như sau: Khung sinh kế bền vững hay còn gọi là nguyên tắc của sinh kế bền vững của DFID là một công cụ trực quan hóa, được DFID xây dựng nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế. Khung sinh kế có thể chia thành năm hợp phần chính: Bối cảnh tổn thương, các tài sản sinh kế, những chính sách thể chế và tiến trình, các chiến lược sinh kế và các kết quả sinh kế. c) Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững Phương pháp tiếp cận SKBV nhằm đạt được: Hiểu biết thực tế hơn về sinh kế cho người nghèo và các yếu tố hình thành sinh kế. Hỗ trợ phát triển dựa trên các nguồn lực của người nghèo để tạo cơ hội cho họ cải thiện sinh kế thông qua các yếu tố sau: - Sản xuất tăng lên nhờ phương thức canh tác bền vững; - Kinh kế ổn định hơn và các hộ gia đình có thể chi tiêu thêm cho giáo dục, y tế.
và góp phần làm tăng trưởng kinh tế chung; - Có khả năng chống chịu được các khó khăn trước mắt như ốm đau, thất nghiệp và mất mùa. Mối quan hệ giữa sinh kế với công tác quản lý, bảo vệ rừng bảo tồn đa dạng sinh học 1. Các giá trị tài nguyên rừng của Khu bảo tồn với sinh kế người dân địa phương Trong sinh kế thường ngày của người dân địa phương, các giá trị sử dụng trực tiếp như: Khai thác gỗ để sử dụng làm nhà, chuồng trại, thu hái lâm sản ngoài gỗ, săn bắt động vật, đất cho sản xuất nông – lâm nghiệp, là những giá trị thiết thực nhất của tài nguyên rừng và quan trọng hàng đầu đối với cuộc sống hàng ngày của họ. Quan trọng đặc biệt là trong bối cảnh họ chưa phát triển được các sinh kế mới thay vì các sinh kế truyền thống dựa vào tài nguyên rừng sẵn có của Khu bảo tồn.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 1.