phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng sau: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chƣơng 1: Cơ sơ lý luận và thực tiễn của đề tài - Chƣơng 2: PTHHQ và tác động của nó đến lối sống của công chúng TP. HCM - Chƣơng 3: Một số giải pháp phát huy vai trò định hƣớng thông tin của các phƣơng tiện thông tin đại chúng với công chúng TP. HCM về làn sóng văn hóa Hàn Quốc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài Nghiên cứu truyền thông và những tác động của truyền thông đến công chúng là một việc không mới nhƣng luôn cần vì sự phát triển của thuyền thông về các mặt phƣơng tiện, kỹ thuật, công nghệ; cùng với đó là sự thay đổi về trình độ, sở thích, cách thức tiếp nhận thông điệp của công chúng; tất cả những điều đó khiến cho việc các công ty truyền thông phải luôn đổi mới để đáp ứng các nguyện vọng, sở thích, thị hiếu của công chúng, khán giả.
Bên cạnh đó, khi đƣa một sản phẩm truyền thông đến với công chúng qua các loại hình truyền thông khác nhau, những nhà làm truyền thông luôn mong muốn công chúng khi tiếp nhận sẽ có những thay đổi trong nhận thức dẫn đến thay đổi thói quen, hành vi. Vì vậy, ngành khoa học nghiên cứu các sản phẩm truyền thông, cách tác động của truyền thông đến công chúng, cũng nhƣ cách thức công chúng tiếp nhận sản phẩm truyền thông là cần thiết để các nhà truyền thông hoàn thành sứ mệnh của mình đối với công chúng, đối với xã hội. Với đề tài “Ảnh hƣởng của phim truyền hình Hàn Quốc đối lối sống của công chúng thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả luận văn đã vận dụng một số khái niệm liên quan đến báo chí truyền thông, xã hội học báo chí truyền thôngvà văn hóa truyền thông để làm rõ các vấn đề nghiên cứu. Truyền thông đại chúng Truyền thông đại chúng là gì? Hiện nay có rất nhiều các khái niệm, định nghĩa về truyền thông đại chúng.
Tùy vào các ngành khoa học mà khái niệm truyền thông đại chúng đƣợc hiểu một cách khác nhau; tuy nhiên, một số những nhân tố cơ bản của truyền thông đại chúng về cơ bản là tƣơng đồng. - Truyền thông (Cummunication): Có rất nhiều các cách định nghĩ khác nhau về truyền thông (Communication) trên thế giới, nhƣ: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Truyền thông (Communication) là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo ra sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi hành vi và nhận thức”. “Truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu đƣợc ngƣời khác và làm cho ngƣời khác hiểu đƣợc chúng ta (Martin P. Adersen 1959 trích theo Frank Dance 1970).
Huỳnh Văn Tòng, trong quyển "Truyền thông đại chúng", xuất bản 1993, thì hiểu đơn giản: “Truyền thông là kỹ thuật truyền đạt tin tức, tƣ tƣởng và thái độ từ ngƣời này sang ngƣời khác” [49]. Truyền thông xuất hiện khi con ngƣời xuất hiện. Truyền thông là hiện tƣợng xã hội ra đời và phát triển cùng sự hình thành phát triển xã hội loài ngƣời. Đó là sản phẩm của xã hội, thể hiện diện mạo văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc; truyền thông cũng là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của xã hội.
Quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời cũng là quá trình phát triển của các phƣơng tiện truyền thông và công nghệ truyền thông; nghĩa là xã hội phát triển thì truyền thông phát triển và ngƣợc lại, truyền thông phát triển giúp xã hội phát triển.TS Nguyễn Văn Dững trong quyển “Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản” thì: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều ngƣời nhằm tăng cƣờng hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vị và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội [10]. Về cơ bản truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tƣợng truyền thông, giữa nguồn phát và nơi tiếp nhận thông tin. Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt đƣợc sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết, sẻ chia,…giữa chủ thể và đối tƣợng truyền thông. Nói cách khác, quá trình truyền thông chỉ thành công khi tạo đƣợc hiệu quả truyền thông.
Nghĩa là Truyền thông hƣớng đến những hiểu biết chung hai chiều nhằm thay đổi thái độ, nhận thứcv à hành vi của cả đối tƣợng truyền thông và chủ thể truyền thông. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Truyền thông đại chúng: Truyền thông đại chúng (mass communication) là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi ngƣời trong xã hội thông qua các PTTTĐC (mass media). Trƣớc khi các PTTTĐC ra đời, con ngƣời mới chỉ giao tiếp và trao đổi thông tin ở cấp độ liên cá nhân, các nhóm nhỏ ở những địa bàn nhỏ. Khi các phƣơng tiện truyền thông xuất hiện, quá trình truyền thông đã bƣớc sang kỷ nguyên mới.
Truyền thông đại chúng là một dạng thức truyền thông đặc biệt trong lịch sử loài ngƣời - khi mà ngƣời truyền thông tin có thể chuyển thông điệp đến đông đảo quần chúng - những ngƣời nhận thông điệp - ở khắp mọi nơi, mọi lúc, điều mà các cách thức truyền thông trƣớc đó không thể nào có đƣợc. Nói cách khác: "Sự chuyển tiếp từ các hệ thống truyền thông truyền miệng sang các hệ thống truyền thông đại chúng chính là một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyển đổi từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại" [36]. Theo khái niệm này, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội phụ thuộc chặt chẽ vào các phƣơng tiện kỹ thuật, hay còn gọi là các kênh truyền (channel). Chính các kênh này là điều kiện cần để thông điệp có thể đƣợc truyền đạt tới đại chúng.
- Cơ chế tác động của truyền thông đại chúng tới công chúng Truyền thông ra đời và phát triển cùng với sự xuất hiện của xã hội loài ngƣời. Truyền thông xuất hiện do nhu cầu, giao tiếp, thông tin giữa ngƣời và ngƣời; Qua truyền thông, công chúng đƣợc thông tin, đƣợc định hƣớng về mặt nhận thức, tu duy và dẫn đến những thay đổi trong suy nghĩ, thái độ và hành vi. Nghiên cứu cơ chế, mô hình tác động của truyền thông đại chúng tới công chúng từ lâu đã trở thành đề tài của nhiều nhà khoa học và đƣợc đúc kết thành các học thuyết, mô hình… Dƣới đây là một số học thuyết, mô hình truyền thông căn bản: - Học thuyết Mũi kim tiêm (hypodermic-needle model) hay học thuyết Viên đạn thần kỳ (magic bullet): 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Học thuyết này ra đời vào những năm 1930 – 1940, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của phát thanh (radio) và truyền hình (TV) ở châu Âu. Các học giả của học thuyết này cho rằng các phƣơng tiện truyền thông đại chúng có tác động trực tiếp, liên tục và mạnh mẽ lên nhận thức, thái độ và làm thay đổi hành vi công chúng.
Họ giả định rằng thông điệp truyền thông là một viên đạn đƣợc bắn ra từ “khẩu súng” là phƣơng tiện truyền thông vào “đầu” của ngƣời tiếp nhận. Hiểu cách khác, phƣơng tiện truyền thông nhƣ các "mũi kim tiêm” đƣợc chủ thể truyền thông tiêm thẳng vào công chúng - những ngƣời đƣợc cho là tiếp nhận thông tin một cách thụ động. Công chúng về cơ bản không thể thoát khỏi ảnh hƣởng của phƣơng tiện truyền thông. Các học giả của học thuyết này cho rằng, công chúng không còn khả năng đề kháng trƣớc sức thuyết phục của truyền thông đại chúng.
Vì vậy, truyền thông dễ dàng đƣợc “chích” vào cơ thể công chúng nhƣ một thứ kim tiêm, ma túy gây nghiện. Tại thời điểm học thuyết này ra đời, các nghiên cứu đều cho thấy công chúng là đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng bởi những thông điệp “bắn” vào họ vì khi đó các công cụ thông tin liên lạc hạn chế, một chiều. Mũi kim tiêm hay Viên đạn chính là cách nói khác về thông tin, thông điệp và tác động trực tiếp của những thông tin đó đối với công chúng. Mặc dù vậy, học thuyết này đƣợc kết luận dựa trên những giả định chứ không qua các nghiên cứu, thí nghiệm nên chứa đựng nhiều hạn chế, phiến diện, do đó nhiều học giả không chấp nhận học thuyết này và họ tiếp tục nghiên cứu truyền thông để tìm ra những học thuyết “hợp lý” hơn.
- Học thuyết dòng chảy 2 bƣớc – Two - step flow: Học thuyết dòng chảy hai bƣớc –- đƣợc Paul Lazarsfeld, Bernard Berelson và Gaudet Hazel đề xuất năm 1944 trong cuốn The People‟s Choice (Sự lựa chọn của nhân dân). Học thuyết này ra đời trong hoàn cảnh sức mạnh của truyền thông đang ảnh hƣởng mạnh mẽ đến dân chúng (nhất là trong bầu cử qua các nghiên cứu về bầu cử tổng thống Mỹ). Học thuyết dòng chảy 2 bƣớc ra đời dựa trên quá trình nghiên cứu ảnh hƣởng của cử tri trong cuộc bầu cử tổng thống thông qua hoạt động của các phƣơng tiện truyền thông. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHƢƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Opinion leaders- Những ngƣời Opinion leaders - những có ảnh hƣởng trong xã hội ngƣời có ảnh hƣởng trong xã hội Công Công Công Công Công Công chúng chúng chúng chúng chúng chúng Tƣ tƣởng cốt lõi của Học thuyết dòng chảy 2 bƣớc là các PTTTĐC không tác động trực tiếp đến công chúng (nhƣ học thuyết Mũi Kim Tiêm hay học thuyết Viên đạn thần kì) mà công chúng tiếp nhận thông tin thông qua những ngƣời có ảnh hƣởng trong xã hội.
Cơ chế của quá trình này nhƣ sau: Các phƣơng tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin, thông điệp đi; công chúng đều nhận đƣợc thông điệp đó; nhƣng công chúng không chịu ảnh hƣởng ngay lập tức bởi các phƣơng tiện truyền thông đại chúng mà họ chịu sự ảnh hƣởng của việc các phƣơng tiện thông tin đại chúng tác động đến những ngƣời có ảnh hƣởng trong xã hội về thông tin, thông điệp đó. Công chúng sẽ ứng xử theo cách mà những ngƣời có ảnh hƣởng trong xã hội phản ứng với các thông tin, thông điệp của các PTTTĐC. Sau này, học thuyết Dòng chảy hai bƣớc phát triển hơn trở thành Dòng chảy đa bƣớc hay còn gọi là: Multi -step flow với sự ảnh hƣởng mạnh mẽ của các trang mạng xã hội. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.