MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Biến đổi khí hậu chủ yếu đƣợc biết đến với hiện tƣợng nóng lên toàn cầu và nƣớc biển dâng là vấn đề nghiêm trọng ảnh hƣởng tới cuộc sống của mọi sinh vật trên trái đất. Dƣới tác động của biến đổi khí hậu, các hiện tƣợng thời tiết cực đoan đang ngày càng gia tăng và đƣợc dự đoán ngày càng khốc liệt. Tại Việt Nam, các biểu hiện của biến đổi khí hậu đƣợc mô tả nhƣ sau: trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm đã tăng khoảng 0.7°C, mực nƣớc biển dọc các vùng bờ biển đã dâng cao khoảng 20 cm và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan có nguồn gốc khí tƣợng thủy văn trong đó có bão diễn biến ngày càng phức tạp, khó lƣờng.
Hiện tƣợng nƣớc dâng bão ở vùng ven bờ là một trong những hệ quả rất tiêu cực. Trong thời kỳ triều cƣờng, nƣớc dâng bão gây ảnh hƣởng rất lớn tới vùng ven bờ với các hình thái nhƣ là ngập lụt, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển. Chính vì thế, việc nghiên cứu và tính toán nƣớc dâng bão là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao góp phần phòng tránh, cũng nhƣ giảm thiểu những thiệt hại gây ra bởi nƣớc dâng bão… Tại nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận nhiều cơn bão gây gió mạnh, mƣa lớn và nƣớc dâng cao làm ngập vùng ven bờ trên diện rộng. Điển hình gần đây là vào tháng 8 năm 2005, cơn bão Katrina với sức gió lên tới 140 dặm/giờ gây nƣớc dâng tới 6.0m đã đổ bộ vào bang New Orleans Mỹ gây ngập lụt trên diện rộng khiến 1.800 ngƣời chết, thiệt hại 81,2 t đô la.
Tại khu vực Đông Nam Á, tháng 5 năm 2008 bão Nargis đổ bộ vào Myanmar khiến 90.000 ngƣời chết và hơn 56.000 ngƣời mất tích, gây thƣơng vong về ngƣời nhiều nhất trong lịch sử Myanmar, ƣớc tính thiệt hại khoảng 10 t đô la. Gần đây nhất, tháng 11 năm 2013, siêu bão Haiyan sức gió cấp 17 (trên 300km/h) gây nƣớc dâng cao 5m đã đổ bộ vào phía đông Phillipines và làm 6.300 ngƣời chết, phá hủy gần 90% thành phố Tacloban, gây thiệt hại lên đến hàng t đô la. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ quan Khí tƣợng Nhật Bản đánh giá Việt Nam là khu vực có nguy cơ nƣớc dâng bão lớn (Hình 1), đặc biệt tại khu vực ven biển vịnh Bắc Bộ và ven biển miền Trung bởi vì đây là nơi bão hoạt động nhiều và mạnh và có địa hình ven bờ nông, đáy thoải. Hình 0-1: Bản đồ nguy cơ nước dâng bão tại các nước trong khu vực (Nguồn: JMA) Tại Việt Nam, những năm cuối thế k 20 và gần đây đã ghi nhận nhiều cơn bão mạnh gây nƣớc dâng và ngập lụt nhƣ: bão Kelly đổ bộ vào Thanh Hóa gây ra nƣớc dâng 2,8 - 3,2m vào năm 1981, năm 1985 tại Quảng Bình bão Andy gây nƣớc dâng 1,7m, năm 1985 bão Cecil sức gió cấp 12 gây nƣớc dâng rất lớn 1,9m ở Thuận An và 1,7m ở Lăng Cô và đã gây thiệt hại nặng nề cho 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, bão Wayne năm 1986 gây nƣớc dâng tới 2,3m tại Thái Bình, bão Betty năm 1987 gây nƣớc dâng 2,5m tại Nghệ An, bão Dot năm 1989 gây nƣớc dâng 2,2m tại Hải Phòng, bão Irving gây nƣớc dâng 2,9m tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), bão Frankie năm 1996 gây nƣớc dâng 3,1m ở Tiền Hải (Thái Bình), bão Niki năm 1996 gây nƣớc dâng cao nhất là 3,1m tại Hải Hậu (Nam Định).
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại khu vực ven biển miền Trung, tháng 9/2006 bão Xangsane đổ bộ vào Đà Nẵng với sức gió cấp 13 gây nƣớc dâng 1,4m kết hợp với mƣa lớn đã gây ngập lụt nặng nề và kéo dài trên diện rộng tại các tỉnh miền Trung. Tiếp theo phải kể đến cơn bão Ketsana vào tháng 9/2009 đã đổ bộ vào ven bờ Quảng Nam - Đà Nẵng với sức gió cấp 11 và gây nƣớc dâng trên 1,1m tại Sơn Trà, kết hợp với lũ cao tới 3,2m tại Hội An khiến 30 ngƣời chết và 170.000 ngƣời phải sơ tán. Diện tích ngập lụt vùng ven bờ gia tăng đáng kể khi bão đổ bộ vào thời kỳ triều cƣờng do sự kết hợp của mực nƣớc triều cao với nƣớc dâng bão và sóng lớn có thể phá hủy các công trình ven biển. Ngoài ra, mức độ ngập lụt cũng bị ảnh hƣởng bởi thời gian duy trì và kéo dài của cơn bão.
Xuất phát từ những lý do trên, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của nước biển dâng do bão đến khu vực ven biển tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu” trong bối cảnh hiện nay là rất quan trọng. Mục tiêu nghiên cứu - Ứng dụng mô hình số trị trong việc mô phỏng sóng, nƣớc dâng bão và ngập lụt do nƣớc dâng bão Ketsana năm 2009 cho khu vực ven biển Quảng Nam. - Mô phỏng ngập lụt do nƣớc dâng bão cho khu vực ven biển Quảng Nam có xét đến kịch bản BĐKH và nƣớc biển dâng vào các năm 2030, 2050 và 2100. Nội dung nghiên cứu - Tổng quan phân tích diễn biến, xu thế và các cơn bão đổ bộ vào khu vực ven biển miền Trung từ năm 1961- 2014.
- Ứng dụng mô hình hóa mô phỏng cơn bão Ketsana 2009 để đánh giá ảnh hƣởng của nƣớc biển dâng do bão đến khu vực nghiên cứu. - Xây dựng kịch bản tính toán diện tích ngập lụt cho khu vực nghiên cứu trong bối cảnh biến đổi khí hậu nƣớc biển dâng vào các năm 2030, 2050 và 2100. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Trong nghiên cứu này, đối tƣợng nghiên cứu là nƣớc dâng bão và ngập lụt ven bờ do nƣớc dâng bão khu vực ven biển tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu.2 Phạm vi nghiên cứu Khu vực ven biển tỉnh Quảng Nam.
Cấu trúc của Luận văn Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chƣơng 2: KHU VỰC, TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về bão và nƣớc dâng bão 1.1 Tổng quan về bão 1. Khái niệm Bão và áp thấp nhiệt đới đƣợc gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới là một vùng gió xoáy có đƣờng kính tới hàng trăm kilômét, hình thành trên vùng biển nhiệt đới. Ở bắc bán cầu, gió thổi xoáy và trung tâm theo hƣớng ngƣợc chiều kim đồng hồ và ngƣợc lại đối với nam bán cầu.
Áp suất khí quyển trong bão thấp hơn rất nhiều so với xung quanh và thƣờng thấp hơn 1000mb. Tùy theo tốc độ gió mạnh nhất trung bình ở vùng gần tâm bão mà xoáy thuận nhiệt đới đƣợc phân chia thành áp thấp nhiệt đới hay bão.Thuật ngữ xoáy thuận nhiệt đới (tropical cyclone) khác với từ bão nhiệt đới (tropical storm) và áp thấp nhiệt đới (tropicaldepression) đƣợc phân loại theo tốc độ gió cực đại ở vùng trung tâm nhƣ ta sẽ thấy từ định nghĩa dƣới đây. Hình 1-1: Bão trên Tây Bắc Thái Bình Dương (Nguồn: Trung tâm dự báo KTTV quốc gia) 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cấu trúc của bão Các thành phần chính của bão bao gồm: các dải mây, mƣa ở rìa ngoài; mắt bão ở chính giữa và thành mắt bão nằm ở sát ngay mắt bão.
Các dải mây mƣa ở rìa ngoài của bão (nơi thƣờng có tốc độ gió lớn) có thể trải xa cách tâm bão hàng trăm km. Các dải mây này đƣợc tạo thành từ nhiều khối mây đối lƣu phát triển mạnh, ở nhiều giai đoạn khác nhau và liên kết với nhau chặt chẽ, có sắp xếp, có tổ chức. Đôi khi các dải mây, mƣa xoắn bị các lớp mây trên cao che phủ khiến cho chúng ta gặp rất nhiều khó khăn khi theo dõi bão bằng ảnh mây vệ tinh. Xen kẽ giữa các dải mây, mƣa xoắn kèm theo gió mạnh gây ra mƣa to, gió lớn là những vùng gió không mạnh và mƣa không nhiều tạo thành từng đợt mƣa.
Hình 1-2: Cấu trúc mặt cắt dọc của một cơn bão Mắt bão nằm ở khu vực trung tâm của xoáy bão, là vùng tƣơng đối lặng gió, quang mây. Do lực li tâm làm không khí xung quanh vùng trung tâm bão giãn ra nên mật độ không khí ở đây rất thấp và khí áp giảm xuống thấp nhất. Đƣờng kính trung bình của mắt bão khoảng 30-60 km. Khi ở trong khu vực mắt bão, ngƣời ta thƣờng rất ngạc nhiên khi thấy gió và mƣa đang xảy ra rất dữ dội 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại đột nhiên ngừng hẳn, trời quang mây tạnh.
Nhƣng ngay khi mắt bão đi qua gió và mƣa xuất hiện lại ngay, cũng đột ngột nhƣ trƣớc khi mắt bão đi qua, nhƣng với hƣớng ngƣợc lại. Thành mắt bão là tƣờng mây dày xung quanh mắt bão gồm các đám mây dông phát triển lên rất cao. Đi vào khu vực này tốc độ gió tăng lên đột ngột và đạt tốc độ mạnh nhất trong bão. Mắt bão có thể to ra thu hẹp lại hay nhân đôi lên và có thể tạo ra nhiều vòng thành mắt bão.
Sự biến đổi của mắt bão và thành mắt bão gây nên các biến đổi về tốc độ gió và cƣờng độ bão. Tổng quan về nước dâng bão 1. Khái niệm nước dâng bão Nƣớc dâng là hiện tƣợng dâng lên của mực nƣớc biển hoặc hồ lớn so với mực nƣớc nền bình thƣờng khi có gió thổi vào bờ. Trong biển có thủy triều, nƣớc dâng là sự dâng mực nƣớc biển cao hơn mực thủy triều vốn có bởi tác động của bão.
Nƣớc dâng bão là sự dâng mực nƣớc thời đoạn ngắn để phản ứng với trƣờng áp suất và trƣờng ứng suất gió bão trên mặt. Trên hình 1-3 trình bày các thành phần và sự biến đổi của mực nƣớc trong bão. Hình 1-3: Sự biến đổi mực nước trong bão (Nguồn: Nguyễn Bá Thủy, 2014) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi bão đổ bộ ngoài hiện tƣợng gió mạnh phá hủy nhà cửa, cây cối, mƣa lớn gây ngập lụt, một hiện tƣợng đi kèm nguy hiểm khi bão đến là nƣớc biển dâng cao. Nƣớc biển dâng cao khủng khiếp đã xảy ra ở vùng biển Băng-la-đét vào năm 1991, đạt độ cao 6-7m đã làm cho hơn 138.000 ngƣời thiệt mạng.
Ở Việt Nam, nƣớc biển dâng và sóng lớn đã từng làm sạt lở nhiều đoạn đê, kè biển, gây ngập mặn hàng vạn hécta đồng ruộng và nhiều ngƣời thiệt mạng. Mực nƣớc dâng k lục quan trắc đƣợc tại Hòn Dấu là 425 cm xảy ra trong cơn bão ngày 26/9/1955 có sức gió đến 35 m/s.