CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về Keo lai 1. Trên thế giới Keo lai là tên gọi tắt chỉ giống lai tự nhiên giữa keo tai tuong (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống lai tự nhiên này được Messrs Herbum và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm 1972.trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia.
Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai. Đến tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) Pedgley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun et al, 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Ruféld, 1987) va Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia: Keo lai cũng được phát hiện ở Thái Lan (Kijka, 1992), ở đây Keo lai được gây trồng thành từng đám khoảng 30 cây tại trụ sở của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN-Canada ở Muak- Lek, Saraburi. Cho đến nay, trên thế giới đã'có hàng trăm công trình nghiên cứu về các loài keo trên nhiều lĩnh vực: Đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh lý, sinh hoá, lâm học, khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống .Các công trình này đã phục vụ tốt cho việc việc phổ biến gây trồng keo trên toàn thế giới.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sáu: Vé hình thái giải phẫu thực vật có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả: Pedley, ]. (1990), Verdcord, B (1979), Turnbull (1986), Gun at all (1987), Darus và Rasip (1989), Gan và Sim Boon Liang (1991) Theo Krathin tepiiarong (2003) về phân bố và hình thái cho thấy Keo lai xuất hiện ở những nơi có nhiệt độ từ 12-35°C, lượng mưa đạt từ 1200- 1850mm, và độ cao từ 50-350 m. Trong 2 năm cây có thể đạt chiều cao từ 8- 10m và đường kính từ 7,5-9 cm. Keo lai thích hợp với đất cát pha, đất sét pha cát và đặc biệt là đất xốp.
Keo lai bất đầu có hoa khoảng 3 năm tuổi, mùa ra hoa vào tháng 7 và tháng 8, lần hai ra hoa vào tháng 10 và tháng 11, hoa tự có màu trắng đến hơi trắng, chiêu dài bông từ 8 đến 10 cm. Quả Keo lai xoắn vòng và chín sau 3 thang (Ibrahim 1993), trong một vỏ quả thường có từ 5-9 hạt, kích thước hạt đạt từ. 0,3 - 0,4 cm, vỏ hạt cứng do vậy có thể xử lý bằng cách ngâm trong axit Sulfuric đặc khoảng 15 phút sau đó rửa sạch bằng nước hoặc có thể ngâm trong nước nóng qua đêm, sau khi/xử lý 7-10 ngày hạt sẽ nảy mâm. Tuy nhiên hạt không được dùng trong việc tái sinh vì chúng bị phân ly A.
Nhân giống Keo lai bằng giâm hom hoặc nuôi cấy mô, cả hai phương:pháp đã chứng minh dat được thành công (Darus 1993, Kijkar 1992). Vé-giam hom Keo lai cho tỷ lệ ra rễ cao (92%), hom được xử lý bằng hooc môn ra rễ (Indole Butyric Acid - IBA 100 ppm) và giữ ở độ ẩm đạt trên 80% và nhiệt độ dưới 30°C. Về sinh lý, sinh hoá có thể để cập đến các công trình của Verhoef, L (1990), Delwaulle, J. Vé sinh trưởng, tăng trưởng và sản lượng có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Tanpibal và các cộng sự (1991), Ugalde, L.
Nghiên cứu tại Sabah chờ:thấy cây Keo lai thể hiện sự sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng thuần loại, cây Keo lai cũng cho chất lượng gỗ sợi, gỗ dán lạng, bột giấy tốt hơn Kco tai tượng. Ngoài ra Keo lai cũng có sự tăng sức chống chịu với bệnh thối ruột gỗ trong khi đó Keo tai tượng lại thường bị rỗng ruột. 'Từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thử nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng Keo tai tugng va Keo 14 tram (Umboh et al, 1993). Keo lai tự nhiên còn được tìm thấy trong vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) của trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al, 1988) và khu trồng Keo tai tượng của Quảng Châu (Trung Quốc).
Trong giai đoạn vườn ươm cây Keo lai hình thành lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm (Rufeld, 1988). Lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5 của cây con, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 đến 10-11 thì lá giả đầu tiên ở cây Keo lai thường xuất hiện ở lá thứ 5-6 đến 8-9 (Gan and Sim Boon Liang, 1991). Tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Keo lai còn được phát hiện ở các tính trạng khác như hoa tự, hoa và hạt (Bowen, 1981). Theo thông báo của Tham (1976) thì cây lai thường cáo hơn cả hai loài bố mẹ, song vẫn giữ hình dáng kém của Keo lá tràm.
Theo thông báo miệng của 'Wong (dẫn từ Pinso và Nasi, 1991) thì trong nhiều trường hợpở Sabah cây lai vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng. Ông cũng thấy ưu thế lai của Keo lai thể hiện rất rõ 6 Ulu Kukut và cây lãi thường cao hơn, to hơn rõ rệt so với loài bố mẹ. Tuy vậy, Rufeld (1987) lại không tìm thấy một sự sai khác nào. đáng kể về sinh trưởng của Keo lai so với các loài bố mẹ.
Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật sự. Điều đó có thể là do tác dụng lãn nhau của hiện tượng ưu thế lai với điều kiện hoàn cảnh. Đánh giá Keo lai tại Sabah một cách tổng hợp Pinso va Nasi (1991) thay rằng có thể có ưu thế lai, song không bắt buộc và có thể bị ảnh hưởng của cả yếu tố đi truyền lẫn điều kiện lập dia. Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F, tốt hơn xuất xt Sabah cia Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Oriomo River (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queenland, Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F; trở dí thì không đồng đêu với trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc đù eó một số cây cá biệt có khá hơn.
Khi đánh giá các chỉ tiêu chất lương của cây Rufeld (1987) đã cho rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều cua than, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và góc phân cành lại kém hơn Keo tai tượng. Còn Pinso và Nasi (1991) lại thấy rằng độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân. Ở cây Keo lai đền tốt hơn các loài Keo bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại. Cây Keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn phát triển tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tốt (Pinyopusarerk, 1990).
Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom (Grifñin, 1988), nuôi cấy mô bằng: môi trường cơ bản Musashige và Skooge (MS) có thêm 6-Benzylaminopurinc (BAP) 0,5 mg/l va cho ra rễ trong phòng với khả năng hơn 70 %. (Darus, 1991), sau 1 năm cây mô có thể cao 1,09 m. Nhu vậy, Keo lai đã được phát hiện khá sớm ở Malaysia-và Papua New. guinea và đã có những nghiên cứu một số tính chất cơ bản về hình thái, sinh trưởng và khả năng nhân giống bằng hom và nuôi cấy mô.
Nghiên cứu về chon giống Keo lai Ở Việt nam, Keo lai được Trung tâm nghiên.cứu giống cây rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp) phát hiện tại BaVì(Hà Tay), Đông Nam Bộ và Tân tạo (Thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 1992 [27]. Cây Keo lai được chú ý nghiên cứu từ năm 1993, những nghiền cứu đâu tiên phải kể đến đó là: Nghiên cứu giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Phạm Văn Tuấn, Hồ Quang Vinh, Trần Cự (1993, 1995, 1997) [23], [24], [26] kết quả cho thay rang Keo lai là một dang lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo là tràm, có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trang gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Keo lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng s© với Keo tai tượng và Keo lá tràm. Khi cất ngang cây Keo lai 2,5 tuổi tại Ba Vì để tạo chôi thì Keo lai cho rất nhiều chổi (trung bình 289 hom/gốc).
Các Homi nay có tỷ lệ ra rễ trung bình 47%, có dòng cho tỷ lệ tới 57%-85% như dòng BV33, BV23 có tỷ lệ ra rễ trên 80% và các dòng BV30, BV32, BV29, BV28, BV19, BV20, BV22, BV12 có tỷ lệ ra rễ từ 60%-72%. Kết quả khảo nghiệm giống lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng, của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh (1997, 1998) [24], [26] cho thấy ở giai đoạn 4 năm, cây hom của Keo lai đời F; có thể tích gấp 1,6-2 lần Keo tai tượng và 3-4 lần Keo lá tram. Tốc độ sinh trưởng của cây hom:Keo. lai đời F¡ nhanh hơn cây hạt và cây hom của những xuất xứ sinh trưởng nhanh.
nhất trong các loài keo bố mẹ và vẫn duy trì tốc độ sinh trưởng nhanh trong, những năm tiếp tho. Nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự (1997) [25] còn chở thấy không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới. Keo laï'F; có hình thái trung gian giữa hai loài keo bố mẹ và tương đối đồng nhất, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng và có nhiều đặc trưng ưu việt khác. Đến đời F; Keo lai có nhiều biểu hiện thoái hoá và phân ly khá rõ rệt thành các dạng cây khác nhau, sinh trưởng kém hơn đời F, và có biến động lớn về sinh trưởng.
Nghiên cứu về chọn lọc cây trội, nhân giống và bước đầu trồng khảo nghiệm dòng vô tính Keo lai ở Đông Nam Bộ của Phạm Văn Tuấn (1997) [58] cho thấy hom chồi của Keo lai cho tỷ lệ ra rễ cao nhất nếu được giâm từ tháng, 5 đến tháng 10 và được xử lý bằng IBA dạng bột, nồng độ 0,7% và 1,0%. Trong đó, các cá thể Keo lai khác nhau-có tỷ lệ ra rễ trong hom giâm là khác nhau. Qua khảo nghiệm dòng vô tính thấy rằng chỉ một số dòng Keo lai có sinh trưởng nhanh hơn so với Keo tai tượng và Keo lá tràm. Từ kết quả nghiên cứu chọn được các dòng Keo.