Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp ảnh hưởng của một số nhân tố đến sinh trưởng và hiệu quả kinh tế rừng keo lai acacia mangium x acacia auriculiformis trồng thuần loài tại

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích lâm nghiệp ảnh hưởng của một số nhân tố đến sinh trưởng và hiệu quả kinh tế rừng keo lai acacia, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2007

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Những nghiên cứu về Keo lai

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Nghiên cứu về chọn giống Keo lai

1.2. Mục tiêu, nội dung và đối tượng nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Đối tượng nghiên cứu

1.2.3. Phạm vi nghiên cứu

1.3. Phương pháp luận

1.3.1. Phương pháp kỹ thuật

1.3.2. Phương pháp thu thập số liệu ngoài thực địa

1.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

1.4. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội

1.4.1. Vị trí địa lí

1.4.2. Thổ nhưỡng

1.4.3. Khí hậu thủy văn

1.4.4. Tài nguyên rừng

1.4.5. Điều kiện dân sinh, kinh tế

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Phân bố của các OTC theo cấp đất và vị trí địa hình

4.1.1. Kết quả xác định cấp đất

4.1.2. Phân bố OTC theo vị trí

4.1.3. Quy luật phân bố N-H

4.1.4. Tương quan H-D

4.2. Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng

4.2.1. Sinh trưởng đường kính

4.2.2. Sinh trưởng chiều cao

4.2.3. Sinh trưởng trữ lượng

4.2.4. Chất lượng cây và lâm phần

4.2.5. Một số nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng Keo lai trồng thuần loài tại địa phương

4.2.5.1. Ảnh hưởng của nhân tố giống
4.2.5.2. Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật và phương thức kinh doanh
4.2.5.3. Ảnh hưởng của sâu hại và điều kiện thời tiết bất lợi

4.2.6. Sinh trưởng Keo lai trên các cấp đất

4.2.6.1. Sinh trưởng đường kính trên các cấp đất khác nhau
4.2.6.2. Sinh trưởng chiều cao trên các cấp đất khác nhau

4.2.7. Sinh trưởng Keo lai trên vị trí địa hình khác nhau

4.2.7.1. Sinh trưởng đường kính trên các địa hình khác nhau
4.2.7.2. Sinh trưởng chiều cao trên các địa hình khác nhau

4.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế

4.3.1. Dự toán chi phí cho 1 ha rừng Keo lai trồng thuần loài

4.3.2. Dự đoán thu nhập cho 1 ha rừng trồng Keo lai thuần loài sau một chu kỳ kinh doanh

4.3.3. Thu nhập cho 1 ha Keo lai trên các cấp đất khác nhau

4.3.4. Hiệu quả kinh tế sau một chu kỳ kinh doanh

4.3.5. Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp tĩnh

4.3.6. Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp động

4.3.7. Phân tích thị trường Keo lai tại khu vực nghiên cứu

4.3.8. Đề xuất giải pháp phát triển rừng Keo lai thuần loài tại địa phương

4.3.8.1. Giải pháp về kỹ thuật
4.3.8.2. Giải pháp về chính sách
4.3.8.3. Giải pháp về thị trường tiêu thụ

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ

5.1. Kết quả đánh giá sinh trưởng Keo lai

5.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng Keo lai

5.3. Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng Keo lai

5.4. Một số giải pháp phát triển bền vững rừng trồng Keo lai

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng nhân tố đến sinh trưởng rừng keo lai

Rừng keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) đã trở thành một trong những loại cây trồng chủ lực trong ngành lâm nghiệp Việt Nam. Việc hiểu rõ về ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh trưởng của loại cây này là rất quan trọng. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố như điều kiện tự nhiên, kỹ thuật trồng trọt và quản lý rừng, từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu cho việc phát triển bền vững rừng keo lai.

1.1. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng keo lai

Điều kiện tự nhiên như khí hậu, thổ nhưỡng và địa hình có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự sinh trưởng của rừng keo lai. Nghiên cứu cho thấy rằng cây keo lai phát triển tốt nhất ở những vùng có lượng mưa từ 1200-1850mm và nhiệt độ từ 12-35°C. Đặc biệt, đất cát pha và đất sét pha cát là những loại đất lý tưởng cho sự phát triển của cây.

1.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật trồng trọt đến sinh trưởng rừng keo lai

Kỹ thuật trồng trọt như mật độ cây, phương pháp chăm sóc và bón phân có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của rừng keo lai. Việc áp dụng đúng kỹ thuật có thể giúp tăng năng suất và chất lượng gỗ. Nghiên cứu cho thấy rằng việc trồng cây với mật độ hợp lý và chăm sóc đúng cách có thể nâng cao hiệu quả kinh tế từ rừng keo lai.

II. Thách thức trong việc phát triển rừng keo lai tại Việt Nam

Mặc dù rừng keo lai có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc phát triển. Các vấn đề như sâu bệnh, điều kiện thời tiết bất lợi và quản lý rừng chưa hiệu quả đang ảnh hưởng đến sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của rừng keo lai.

2.1. Ảnh hưởng của sâu bệnh đến sinh trưởng rừng keo lai

Sâu bệnh là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng của rừng keo lai. Các loại sâu hại như sâu đục thân và bệnh thối gốc có thể làm giảm năng suất và chất lượng gỗ. Việc phát hiện sớm và áp dụng biện pháp phòng trừ kịp thời là rất cần thiết.

2.2. Điều kiện thời tiết bất lợi và ảnh hưởng đến rừng keo lai

Thời tiết bất lợi như hạn hán hoặc mưa lớn có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho rừng keo lai. Nghiên cứu cho thấy rằng cây keo lai có khả năng chịu hạn tốt hơn so với các loại cây khác, nhưng vẫn cần có biện pháp quản lý nước hợp lý để đảm bảo sự phát triển bền vững.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng nhân tố đến sinh trưởng rừng keo lai

Để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh trưởng rừng keo lai, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm khảo sát thực địa, thu thập số liệu và phân tích thống kê.

3.1. Khảo sát thực địa và thu thập số liệu

Khảo sát thực địa được thực hiện tại các khu vực trồng rừng keo lai để thu thập số liệu về sinh trưởng, chất lượng gỗ và các yếu tố môi trường. Số liệu này sẽ được sử dụng để phân tích và đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh trưởng.

3.2. Phân tích thống kê và đánh giá kết quả

Sau khi thu thập số liệu, các phương pháp phân tích thống kê sẽ được áp dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các nhân tố và sinh trưởng của rừng keo lai. Kết quả sẽ giúp đưa ra những khuyến nghị cho việc quản lý và phát triển rừng keo lai hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về rừng keo lai

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật và quản lý hợp lý có thể nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng keo lai. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc cải thiện giống cây và áp dụng công nghệ mới là cần thiết để phát triển bền vững.

4.1. Kết quả sinh trưởng và chất lượng gỗ rừng keo lai

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cây keo lai có khả năng sinh trưởng nhanh và chất lượng gỗ tốt. Cây có thể đạt chiều cao từ 8-10m và đường kính từ 7,5-9cm trong vòng 2 năm. Chất lượng gỗ của keo lai được đánh giá cao hơn so với các loại keo khác.

4.2. Hiệu quả kinh tế từ rừng keo lai

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả kinh tế từ rừng keo lai là rất cao. Với chi phí đầu tư hợp lý, người trồng có thể thu được lợi nhuận lớn từ việc khai thác gỗ. Việc phát triển rừng keo lai không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của rừng keo lai

Rừng keo lai có tiềm năng lớn trong việc phát triển bền vững tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần có những giải pháp đồng bộ để khắc phục các thách thức hiện tại. Việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới sẽ giúp nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng keo lai trong tương lai.

5.1. Đề xuất giải pháp phát triển bền vững rừng keo lai

Để phát triển bền vững rừng keo lai, cần có các giải pháp như cải thiện giống cây, áp dụng công nghệ mới và quản lý rừng hiệu quả. Việc đào tạo người trồng rừng cũng rất quan trọng để nâng cao nhận thức và kỹ năng trong việc chăm sóc và quản lý rừng.

5.2. Triển vọng tương lai của rừng keo lai tại Việt Nam

Với những nỗ lực trong việc nghiên cứu và phát triển, rừng keo lai có thể trở thành một trong những loại cây trồng chủ lực trong ngành lâm nghiệp Việt Nam. Sự phát triển bền vững của rừng keo lai sẽ góp phần vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống của người dân.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp ảnh hưởng của một số nhân tố đến sinh trưởng và hiệu quả kinh tế rừng keo lai acacia mangium x acacia auriculiformis trồng thuần loài tại

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về Keo lai 1. Trên thế giới Keo lai là tên gọi tắt chỉ giống lai tự nhiên giữa keo tai tuong (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống lai tự nhiên này được Messrs Herbum và Shim phát hiện lần đầu tiên vào năm 1972.trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah của Malaysia.

Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai. Đến tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) Pedgley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Keo lai tự nhiên cũng được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun et al, 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Ruféld, 1987) va Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia: Keo lai cũng được phát hiện ở Thái Lan (Kijka, 1992), ở đây Keo lai được gây trồng thành từng đám khoảng 30 cây tại trụ sở của trung tâm nghiên cứu giống cây rừng ASEAN-Canada ở Muak- Lek, Saraburi. Cho đến nay, trên thế giới đã'có hàng trăm công trình nghiên cứu về các loài keo trên nhiều lĩnh vực: Đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh lý, sinh hoá, lâm học, khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống .Các công trình này đã phục vụ tốt cho việc việc phổ biến gây trồng keo trên toàn thế giới.

Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sáu: Vé hình thái giải phẫu thực vật có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả: Pedley, ]. (1990), Verdcord, B (1979), Turnbull (1986), Gun at all (1987), Darus và Rasip (1989), Gan và Sim Boon Liang (1991) Theo Krathin tepiiarong (2003) về phân bố và hình thái cho thấy Keo lai xuất hiện ở những nơi có nhiệt độ từ 12-35°C, lượng mưa đạt từ 1200- 1850mm, và độ cao từ 50-350 m. Trong 2 năm cây có thể đạt chiều cao từ 8- 10m và đường kính từ 7,5-9 cm. Keo lai thích hợp với đất cát pha, đất sét pha cát và đặc biệt là đất xốp.

Keo lai bất đầu có hoa khoảng 3 năm tuổi, mùa ra hoa vào tháng 7 và tháng 8, lần hai ra hoa vào tháng 10 và tháng 11, hoa tự có màu trắng đến hơi trắng, chiêu dài bông từ 8 đến 10 cm. Quả Keo lai xoắn vòng và chín sau 3 thang (Ibrahim 1993), trong một vỏ quả thường có từ 5-9 hạt, kích thước hạt đạt từ. 0,3 - 0,4 cm, vỏ hạt cứng do vậy có thể xử lý bằng cách ngâm trong axit Sulfuric đặc khoảng 15 phút sau đó rửa sạch bằng nước hoặc có thể ngâm trong nước nóng qua đêm, sau khi/xử lý 7-10 ngày hạt sẽ nảy mâm. Tuy nhiên hạt không được dùng trong việc tái sinh vì chúng bị phân ly A.

Nhân giống Keo lai bằng giâm hom hoặc nuôi cấy mô, cả hai phương:pháp đã chứng minh dat được thành công (Darus 1993, Kijkar 1992). Vé-giam hom Keo lai cho tỷ lệ ra rễ cao (92%), hom được xử lý bằng hooc môn ra rễ (Indole Butyric Acid - IBA 100 ppm) và giữ ở độ ẩm đạt trên 80% và nhiệt độ dưới 30°C. Về sinh lý, sinh hoá có thể để cập đến các công trình của Verhoef, L (1990), Delwaulle, J. Vé sinh trưởng, tăng trưởng và sản lượng có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Tanpibal và các cộng sự (1991), Ugalde, L.

Nghiên cứu tại Sabah chờ:thấy cây Keo lai thể hiện sự sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng thuần loại, cây Keo lai cũng cho chất lượng gỗ sợi, gỗ dán lạng, bột giấy tốt hơn Kco tai tượng. Ngoài ra Keo lai cũng có sự tăng sức chống chịu với bệnh thối ruột gỗ trong khi đó Keo tai tượng lại thường bị rỗng ruột. 'Từ năm 1992 ở Indonesia đã bắt đầu có thử nghiệm trồng Keo lai từ nuôi cấy mô phân sinh, cùng Keo tai tugng va Keo 14 tram (Umboh et al, 1993). Keo lai tự nhiên còn được tìm thấy trong vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) của trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al, 1988) và khu trồng Keo tai tượng của Quảng Châu (Trung Quốc).

Trong giai đoạn vườn ươm cây Keo lai hình thành lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm (Rufeld, 1988). Lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5 của cây con, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 đến 10-11 thì lá giả đầu tiên ở cây Keo lai thường xuất hiện ở lá thứ 5-6 đến 8-9 (Gan and Sim Boon Liang, 1991). Tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Keo lai còn được phát hiện ở các tính trạng khác như hoa tự, hoa và hạt (Bowen, 1981). Theo thông báo của Tham (1976) thì cây lai thường cáo hơn cả hai loài bố mẹ, song vẫn giữ hình dáng kém của Keo lá tràm.

Theo thông báo miệng của 'Wong (dẫn từ Pinso và Nasi, 1991) thì trong nhiều trường hợpở Sabah cây lai vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng. Ông cũng thấy ưu thế lai của Keo lai thể hiện rất rõ 6 Ulu Kukut và cây lãi thường cao hơn, to hơn rõ rệt so với loài bố mẹ. Tuy vậy, Rufeld (1987) lại không tìm thấy một sự sai khác nào. đáng kể về sinh trưởng của Keo lai so với các loài bố mẹ.

Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật sự. Điều đó có thể là do tác dụng lãn nhau của hiện tượng ưu thế lai với điều kiện hoàn cảnh. Đánh giá Keo lai tại Sabah một cách tổng hợp Pinso va Nasi (1991) thay rằng có thể có ưu thế lai, song không bắt buộc và có thể bị ảnh hưởng của cả yếu tố đi truyền lẫn điều kiện lập dia. Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F, tốt hơn xuất xt Sabah cia Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Oriomo River (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queenland, Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F; trở dí thì không đồng đêu với trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc đù eó một số cây cá biệt có khá hơn.

Khi đánh giá các chỉ tiêu chất lương của cây Rufeld (1987) đã cho rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều cua than, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và góc phân cành lại kém hơn Keo tai tượng. Còn Pinso và Nasi (1991) lại thấy rằng độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân. Ở cây Keo lai đền tốt hơn các loài Keo bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại. Cây Keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn phát triển tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tốt (Pinyopusarerk, 1990).

Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom (Grifñin, 1988), nuôi cấy mô bằng: môi trường cơ bản Musashige và Skooge (MS) có thêm 6-Benzylaminopurinc (BAP) 0,5 mg/l va cho ra rễ trong phòng với khả năng hơn 70 %. (Darus, 1991), sau 1 năm cây mô có thể cao 1,09 m. Nhu vậy, Keo lai đã được phát hiện khá sớm ở Malaysia-và Papua New. guinea và đã có những nghiên cứu một số tính chất cơ bản về hình thái, sinh trưởng và khả năng nhân giống bằng hom và nuôi cấy mô.

Nghiên cứu về chon giống Keo lai Ở Việt nam, Keo lai được Trung tâm nghiên.cứu giống cây rừng (Viện Khoa học lâm nghiệp) phát hiện tại BaVì(Hà Tay), Đông Nam Bộ và Tân tạo (Thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 1992 [27]. Cây Keo lai được chú ý nghiên cứu từ năm 1993, những nghiền cứu đâu tiên phải kể đến đó là: Nghiên cứu giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Phạm Văn Tuấn, Hồ Quang Vinh, Trần Cự (1993, 1995, 1997) [23], [24], [26] kết quả cho thay rang Keo lai là một dang lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo là tràm, có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trang gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Keo lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng s© với Keo tai tượng và Keo lá tràm. Khi cất ngang cây Keo lai 2,5 tuổi tại Ba Vì để tạo chôi thì Keo lai cho rất nhiều chổi (trung bình 289 hom/gốc).

Các Homi nay có tỷ lệ ra rễ trung bình 47%, có dòng cho tỷ lệ tới 57%-85% như dòng BV33, BV23 có tỷ lệ ra rễ trên 80% và các dòng BV30, BV32, BV29, BV28, BV19, BV20, BV22, BV12 có tỷ lệ ra rễ từ 60%-72%. Kết quả khảo nghiệm giống lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng, của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh (1997, 1998) [24], [26] cho thấy ở giai đoạn 4 năm, cây hom của Keo lai đời F; có thể tích gấp 1,6-2 lần Keo tai tượng và 3-4 lần Keo lá tram. Tốc độ sinh trưởng của cây hom:Keo. lai đời F¡ nhanh hơn cây hạt và cây hom của những xuất xứ sinh trưởng nhanh.

nhất trong các loài keo bố mẹ và vẫn duy trì tốc độ sinh trưởng nhanh trong, những năm tiếp tho. Nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự (1997) [25] còn chở thấy không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới. Keo laï'F; có hình thái trung gian giữa hai loài keo bố mẹ và tương đối đồng nhất, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng và có nhiều đặc trưng ưu việt khác. Đến đời F; Keo lai có nhiều biểu hiện thoái hoá và phân ly khá rõ rệt thành các dạng cây khác nhau, sinh trưởng kém hơn đời F, và có biến động lớn về sinh trưởng.

Nghiên cứu về chọn lọc cây trội, nhân giống và bước đầu trồng khảo nghiệm dòng vô tính Keo lai ở Đông Nam Bộ của Phạm Văn Tuấn (1997) [58] cho thấy hom chồi của Keo lai cho tỷ lệ ra rễ cao nhất nếu được giâm từ tháng, 5 đến tháng 10 và được xử lý bằng IBA dạng bột, nồng độ 0,7% và 1,0%. Trong đó, các cá thể Keo lai khác nhau-có tỷ lệ ra rễ trong hom giâm là khác nhau. Qua khảo nghiệm dòng vô tính thấy rằng chỉ một số dòng Keo lai có sinh trưởng nhanh hơn so với Keo tai tượng và Keo lá tràm. Từ kết quả nghiên cứu chọn được các dòng Keo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ