Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích đến ý định mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của nhận thức rủi ro và lợi ích đến ý định mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

188
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.4. Tóm tắt phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬN THỨC RỦI RO VÀ NHẬN THỨC LỢI ÍCH TỚI Ý ĐỊNH MUA THỰC PHẨM CHỨC NĂNG

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.2. Nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích

2.3. Thực phẩm chức năng

2.4. Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB)

2.5. Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích tới ý định mua

2.6. Bối cảnh nghiên cứu

2.7. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của các nhân tố nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích tới ý định mua

2.8. Các nhân tố nhận thức rủi ro

2.9. Các nhân tố nhận thức lợi ích

2.10. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

3.3. Quy trình nghiên cứu

3.4. Kế hoạch nghiên cứu

3.5. Thiết kế thang đo nháp 1

3.6. Xây dựng thang đo nhận thức rủi ro tài chính

3.7. Xây dựng thang đo nhận thức rủi ro công dụng

3.8. Xây dựng thang đo nhận thức rủi ro tâm lý

3.9. Xây dựng thang đo nhận thức rủi ro xã hội

3.10. Xây dựng thang đo nhận thức rủi ro thời gian

3.11. Xây dựng thang đo nhận thức lợi ích công dụng

3.12. Xây dựng thang đo nhận thức lợi ích tiện lợi

3.13. Xây dựng thang đo nhận thức lợi ích xã hội

3.14. Xây dựng thang đo nhận thức lợi ích kinh tế

3.15. Xây dựng thang đo của biến phụ thuộc ý định mua

3.16. Nghiên cứu định tính

3.17. Phương pháp thực hiện nghiên cứu định tính

3.18. Kết quả nghiên cứu định tính

3.19. Nghiên cứu định lượng

3.20. Nghiên cứu sơ bộ định lượng

3.21. Nghiên cứu chính thức

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kiểm định thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

4.2. Tiêu chuẩn kiểm định CFA

4.3. Kết quả kiểm định CFA

4.4. Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

4.5. Kiểm định T-test và phân tích ANOVA

4.5.1. Về nhóm tuổi

4.5.2. Về giới tính

4.5.3. Trình độ học vấn

4.5.4. Tình trạng hôn nhân

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu

5.2. Kiểm định T-test và ANOVA

5.2.1. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm chức năng

5.2.2. Đối với người tiêu dùng

5.2.3. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

5.3. Hạn chế và định hướng nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của nhận thức rủi ro và lợi ích đến ý định mua thực phẩm chức năng tại Việt Nam. Nhận thức rủi rolợi ích là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Thực phẩm chức năng đang trở thành xu hướng tiêu dùng phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng. Nghiên cứu này nhằm phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố nhận thức và ý định mua, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Nhận thức rủi rolợi ích là hai yếu tố quan trọng trong việc dự đoán ý định mua của người tiêu dùng. Thực phẩm chức năng là sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, do đó người tiêu dùng thường cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định mua. Tại Việt Nam, thị trường thực phẩm chức năng đang phát triển mạnh, nhưng vẫn tồn tại nhiều rủi ro liên quan đến chất lượng sản phẩm và thông tin quảng cáo. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống trong việc hiểu rõ cách các yếu tố nhận thức ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm chức năng.

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm định ảnh hưởng của nhận thức rủi rolợi ích đến ý định mua thực phẩm chức năng. Nhiệm vụ bao gồm tổng quan lý thuyết, xây dựng mô hình nghiên cứu, và đưa ra các khuyến nghị cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Nghiên cứu cũng nhằm xác định các yếu tố nhận thức có tác động mạnh nhất đến ý định mua.

II. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), trong đó ý định mua bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Nhận thức rủi ro bao gồm rủi ro tài chính, công dụng, tâm lý, xã hội và thời gian. Lợi ích được chia thành lợi ích công dụng, tiện lợi, xã hội và kinh tế. Mô hình nghiên cứu được xây dựng để kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố này và ý định mua.

2.1 Khái niệm cơ bản

Nhận thức rủi ro là cảm nhận của người tiêu dùng về khả năng xảy ra tổn thất khi mua sản phẩm. Lợi ích là những giá trị mà người tiêu dùng kỳ vọng nhận được từ sản phẩm. Thực phẩm chức năng là sản phẩm hỗ trợ chức năng cơ thể, tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật.

2.2 Mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến độc lập là nhận thức rủi rolợi ích, biến phụ thuộc là ý định mua. Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra để kiểm định mối quan hệ giữa các biến này.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, bao gồm nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn chuyên gia và nhóm tập trung để hoàn thiện thang đo. Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng câu hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu từ người tiêu dùng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê như CFA và SEM.

3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo quy trình từ tổng quan lý thuyết, xây dựng mô hình, đến kiểm định thực nghiệm. Các thang đo được phát triển dựa trên lý thuyết và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát, với mẫu nghiên cứu là người tiêu dùng từng có nhu cầu mua thực phẩm chức năng. Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định mô hình.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức rủi rolợi ích có ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua thực phẩm chức năng. Trong đó, lợi ích công dụngrủi ro tài chính là hai yếu tố có tác động mạnh nhất. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt trong ý định mua theo độ tuổi, giới tính và trình độ học vấn.

4.1 Kiểm định mô hình

Kết quả kiểm định CFA và SEM cho thấy mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu thực tế. Các giả thuyết về ảnh hưởng của nhận thức rủi rolợi ích đến ý định mua đều được chấp nhận.

4.2 Phân tích nhóm

Nghiên cứu phân tích sự khác biệt trong ý định mua theo các nhóm nhân khẩu học. Kết quả cho thấy người tiêu dùng trẻ tuổi và có trình độ học vấn cao có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến lợi ích sức khỏe của thực phẩm chức năng.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu kết luận rằng nhận thức rủi rolợi ích là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm chức năng. Các doanh nghiệp cần tập trung vào việc truyền thông hiệu quả về lợi ích sức khỏe và giảm thiểu rủi ro tài chính để thúc đẩy ý định mua. Cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm và thông tin quảng cáo để bảo vệ người tiêu dùng.

5.1 Kiến nghị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp nên tập trung vào việc nâng cao niềm tin người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin minh bạch về chất lượng sản phẩmlợi ích sức khỏe. Các chiến dịch marketing cần nhấn mạnh vào lợi ích công dụngtiết kiệm chi phí trong tương lai.

5.2 Kiến nghị cho cơ quan quản lý

Cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát thị trường thực phẩm chức năng, đặc biệt là việc kiểm soát chất lượng sản phẩm và thông tin quảng cáo. Cần có các chính sách hỗ trợ người tiêu dùng trong việc tiếp cận thông tin chính xác về sản phẩm.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích đến ý định mua thực phẩm chức năng của người tiêu dùng việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, chương này sẽ tìm hiểu cơ sở lý thuyết: các khái niệm về ý định mua, nhận thức rủi ro, nhận thức lợi ích; ảnh hưởng của các nhân tố nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích tới ý định mua nhờ tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ở lĩnh vực thực phẩm chức năng và các lĩnh vực khác có liên quan. Đồng thời, tìm hiểu đặc điểm thị trường thực phẩm chức năng để từ đó thiết lập mô hình nghiên cứu phù hợp cho luận án. Các khái niệm cơ bản 2. Ý định mua Trong cuộc sống hàng ngày, để dự đoán về xu hướng hành động hoặc hành vi của một người, chúng ta thường xem xét ý định của người đó.

Xuất phát từ thực tiễn này, ý định luôn được xem là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu hành vi của con người. Không ít tác giả đã nghiên cứu về ý định hành vi cũng như đưa ra khái niệm cho thuật ngữ này. Fishbein và Ajzen (1975) định nghĩa ý định hành vi là sự biểu thị tính sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã quy định, được xem là tiền đề để dẫn trực tiếp đến hành vi; đồng thời khẳng định yếu tố quan trọng nhất để quyết định hành vi của một người là ý định thực hiện hành vi đó. Ngoài việc đưa ra khái niệm ý định, hai tác giả này còn xây dựng một lý thuyết chuyên nghiên cứu về ý định hành vi, được biết đến với tên gọi Lý thuyết Hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA).

Sau này, do phát hiện một số hạn chế của TRA, Ajzen (1991) đã phát triển một lý thuyết mới sửa đổi, bổ sung trên nền tảng TRA là Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB). Riêng về ý định, trong thuyết TPB, Ajzen (1991) đã phân tích kỹ hơn, rằng “ý định được giả định để nắm bắt các yếu tố động lực ảnh hưởng đến hành vi, chúng cho biết con người đã cố gắng như thế nào để sẵn sàng thử và đã nỗ lực nhiều như thế nào để thực hiện hành vi”, nhấn mạnh thêm “khi con người có ý định hành vi mạnh mẽ hơn, họ sẽ có khuynh hướng thực hiện hành vi cao hơn”, và giải thích khái niệm ý định hành vi như một chỉ số về “mức 8 độ mà mọi người sẵn sàng cố gắng” và “mức độ nỗ lực mà họ đang lên kế hoạch để phát huy”. Nói cách khác, ý định là đại diện về mặt nhận thức của sự sẵn sàng thực hiện một hành động nào đó. Ý định là động lực của con người trong chính ý nghĩa thực hiện hành vi của họ (Samin và cộng sự, 2012).

Còn về ý định mua của người tiêu dùng, hiểu một cách đơn giản, là ý định đối với hành vi mua một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó của người tiêu dùng. Mirabi và cộng sự (2015) khẳng định ý định mua thường liên quan đến hành vi, nhận thức và thái độ của người tiêu dùng, chỉ ra rằng ý định mua được xem như là một công cụ hữu hiệu để dự đoán quá trình mua và có thể được thay đổi dưới ảnh hưởng của giá cả hoặc nhận thức về chất lượng và giá trị. Do đó, đối với việc mua các sản phẩm mà người mua phải cân nhắc và lên kế hoạch trước như thực phẩm chức năng, nghiên cứu về ý định càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa cấp thiết trong việc dự đoán quá trình mua. Ajzen (1991) cũng cho biết, rất nhiều nghiên cứu nhận định thuyết TPB giúp dự báo tốt hơn hành vi liên quan tới sức khỏe so với các lý thuyết khác và so với lý thuyết tiền nhiệm là TRA.

Thực phẩm chức năng là sản phẩm liên quan mật thiết tới sức khỏa người tiêu dùng, bởi vậy việc ứng dụng thuyết TPB vào nghiên cứu ý định mua thực phẩm chức năng là hoàn toàn phù hợp. Bởi lẽ đó, trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh sử dụng định nghĩa của Ajzen (1991), qua đó xác định: “Ý định mua là mức độ mà người mua hoặc người tiêu dùng sẵn sàng cố gắng và nỗ lực để mua một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó”. Nhận thức rủi ro và nhận thức lợi ích Nhận thức rủi ro Theo Reisinger và Mavondo (2005), rủi ro là khả năng tiếp xúc với các nguy cơ chấn thương hoặc mất mát, nguy hiểm hoặc để mất điều gì đó có giá trị. Trong nghiên cứu marketing, Bauer (1960) lần đầu tiên giới thiệu về khái niệm nhận thức rủi ro trong phân tích hành vi người tiêu dùng không mong muốn, ông nhận định rằng hành vi của một người tiêu dùng liên quan đến rủi ro theo cách bất kỳ hành động nào cũng sẽ tạo ra những hậu quả mà anh ta không thể dự đoán được, và ít nhất một số trong đó có thể sẽ gây khó chịu.

Taylor (1974) cũng cho rằng dù người mua ở trong bất kỳ trường hợp lựa chọn nào thì cũng đều có khả năng gặp rủi ro, có thể hiểu là sự mất mát có thể xảy ra. Tuy nhiên, một điều quan trọng cần lưu ý là các cá nhân chỉ 9 có thể phản hồi và đối phó với rủi ro khi người đó nhận thức nó một cách chủ động, và chỉ có nhận thức là ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng (Bauer, 1960). Theo đó, lý thuyết về nhận thức rủi ro lý giải rằng người tiêu dùng nhận thức được những hậu quả không mong muốn trong quá trình đưa ra quyết định mua hàng (Bauer, 1960). Có rất nhiều khái niệm về nhận thức rủi ro (Dowling & Staelin 1994; Gemunden, 1985; Ross, 1975).

Một trong những định nghĩa thông dụng nhất mô tả nhận thức rủi ro là nhận thức về sự không rõ ràng và kỳ vọng chủ quan về sự mất mát (Bhatnagar & Ghose, 2004; Sweeney et al. Nhận thức rủi ro được nhìn nhận là bản chất và mức độ rủi ro cảm nhận được bởi người tiêu dùng trong việc dự tính một quyết định mua hàng cụ thể nào đó (Cox & Rich, 1964). Một số nhà nghiên cứu cũng thống nhất rằng nhận thức rủi ro là một nhân tố kép dựa trên cảm nhận của người tiêu dùng về mức độ thành công hay thất bại (hay sự không chắc chắn) kết hợp với sự bấp bênh (hay những hậu quả có thể xảy ra) (Cox & Rich, 1964; Kim & Lennon, 2000). Một khái niệm khác của nhận thức rủi ro là sự không chắc chắn mà người tiêu dùng phải đối mặt khi họ không thể thấy trước hậu quả của các quyết định mua hàng của họ (Schiffman & Kanuk, 2000).

Mặc dù có nhiều khái niệm về nhận thức rủi ro nhưng các khái niệm này đều có nhiều điểm tương đồng, và quan điểm của của Schiffman & Kanuk (2000) là hoàn thiện nhất, do đó tác giả sẽ sử dụng khái niệm này trong luận án của mình. Hay nói cách khác, nhận thức rủi ro trong luận án này được hiểu là nhận thức, cảm nhận về sự không chắc chắn mà người tiêu dùng phải đối mặt khi họ không thể thấy trước hậu quả của các quyết định mua hàng của họ. Đây cũng là khái niệm nhận thức rủi ro được sử dụng trong đề tài. Nhận thức lợi ích Lợi ích là một thuật ngữ kinh tế chỉ sự hài lòng, thỏa mãn nhận được từ việc tiêu thụ một sản phẩm hay dịch vụ nào đó (Ekelund & Tollison, 1996).

Trong tâm lý học, một trong số những mô hình có thể giải thích được việc thực hiện các hành vi sức khỏe có liên quan đến xây dựng nhận thức lợi ích là “Mô hình niềm tin sức khỏe” (Becker, 1974). Mô hình cho rằng nhận thức lợi ích là một trong bốn yếu tố dự báo quan trọng trong hành vi liên quan đến sức khỏe (Champion, 1999). Nhận thức lợi ích đó còn được định nghĩa như là niềm tin và kết quả tích cực liên kết với hành vi phản ứng với một mối đe dọa thực tế hay mối đe dọa nhận thức. Nhận thức lợi ích 10 này thường áp dụng đối với hành vi sức khỏe và là đặc trưng cho nhận thức của một cá nhân trong những lợi ích.

Nhận thức đó sẽ được tích lũy bằng cách tham gia hành vi sức khỏe cụ thể. Cụ thể, nhận thức lợi ích của việc chụp ảnh nhũ hoa bao gồm niềm tin của phụ nữ về lợi ích của việc có được ảnh của những khối u ở ngực, ví dụ như “việc có được ảnh những khối u ở ngực sẽ giúp tôi tìm ra những cục u sớm hơn” (Champion, 1999). Nhận thức lợi ích xuất phát từ sự kết hợp của các thuộc tính, bao gồm cả hữu hình và vô hình, bên trong và bên ngoài, chức năng và không có chức năng, trực tiếp và gián tiếp, vv… (Forsythe, Liu, Shannon, & Gardner, 2006; Snoj et al, 2004;. Nhận thức lợi ích đề cập đến nhận thức của hiệu quả tích cực, cái mà gây ra bởi hoạt động cụ thể.

Nhận thức lợi ích còn được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về mức độ mà người đó sẽ trở nên tốt hơn từ việc mua hoặc sử dụng một vật nào đó (Kim et al. Tác giả có đồng quan điểm về khái niệm nhận thức lợi ích trong nghiên cứu của Kim (2008), do đó sẽ sử dụng khái niệm này trong luận án của mình. Hay nói cách khác, nhận thức lợi ích trong luận án này được hiểu là “niềm tin của người tiêu dùng về mức độ mà người đó sẽ trở nên tốt hơn từ việc mua hoặc sử dụng một vật nào đó”. Một sản phẩm/ dịch vụ bất kỳ luôn mang đến nhiều rủi ro hoặc lợi ích khác nhau, do đó nhận thức rủi ro hoặc nhận thức lợi ích của một cá nhân khi mua sắm hoặc tiêu dùng sản phẩm/ dịch vụ đó cũng được cấu thành từ nhiều loại nhân tố nhận thức rủi ro hoặc nhận thức lợi ích khác nhau.

Nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã khẳng định điều này. Cunningham (1967) chỉ ra nhận thức rủi ro là một hiện tượng mang nhiều khía cạnh. Mỗi khía cạnh rủi ro có thể được miêu tả như sự dự tính về chi phí trong tương lai, góp phần vào giá trị cảm nhận của sản phẩm (Sweeney & Soutar, 1999; Sweeney, Soutar, & Johnoson, 2001). Nhận thức lợi ích được biểu hiện thành các loại nhận thức lợi ích khác nhau trong các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau.

Nhận thức lợi ích có thể bao gồm nhận thức về sự tiết kiệm thời gian và nhận thức vấn đề/sản phẩm để có thể sử dụng được sản phẩm/dịch vụ, nhận thức về thời gian tiện lợi, nhận thức về sự tăng cường an ninh và nhận thức hưởng thụ (Sookeun Byun, 200756).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của nhận thức rủi ro và lợi ích đến ý định mua thực phẩm chức năng tại Việt Nam" tập trung phân tích các yếu tố tâm lý và nhận thức của người tiêu dùng đối với thực phẩm chức năng. Nghiên cứu chỉ ra rằng nhận thức về lợi ích sức khỏe và mức độ rủi ro tiềm ẩn đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hàng. Điều này giúp các nhà sản xuất và marketers hiểu rõ hơn về hành vi người tiêu dùng, từ đó điều chỉnh chiến lược tiếp thị và sản phẩm phù hợp.

Để mở rộng kiến thức về thực phẩm chức năng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu sản xuất thực phẩm chức năng từ hợp chất có lưu huỳnh chiết xuất từ súplơ và cải xanh trồng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu dầu sinh học giàu axit béo omega 3 6 từ chủng vi tảo biển dị dưỡng Việt Nam Schizochytrium mangrovei TB17 để làm thực phẩm bảo vệ sức khỏe cho con người, và Luận văn thạc sĩ dược học xác định hàm lượng crinamidin trong thuốc và thực phẩm bảo vệ sức khỏe bằng sắc ký khí khối phổ. Những tài liệu này cung cấp thêm góc nhìn chuyên sâu về nghiên cứu và ứng dụng thực phẩm chức năng trong đời sống.