Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu bánh kẹo từ thị trường Ukraina của Công ty Cổ phần Á Châu ACD FOOD Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động nhập khẩu bánh kẹo dưới sự ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế từ thị trường Ukraina của Công ty Cổ phần Á Châu ACD FOOD 9 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Môi trường kinh doanh quốc tế - Môi trường kinh doanh Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (2021) đã định nghĩa : “Môi trường kinh doanh thường được hiểu là sự tổng hợp các môi trường có liên quan và tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố đó được phân chia thành các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài.
Các doanh nghiệp gần như không thể kiểm soát được các yếu tố bên ngoài này. Các yếu tố bên ngoài cơ bản bao gồm: các yếu tố thuộc môi trường chính trị; các yếu tố thuộc môi trường pháp luật; các yếu tố thuộc môi trường kinh tế; các yếu tố văn hóa xã hội như thái độ, niềm tin, quan điểm, giáo dục; các yếu tố liên quan đến Địa lý tự nhiên như địa hình, khí hậu, và tài nguyên thiên nhiên; các yếu tố về công nghệ, trình độ kỹ thuật.” - Kinh doanh quốc tế Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (2021) đã định nghĩa: “Kinh doanh quốc tế là việc thực hiện hoạt động đầu tư vào sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi có liên quan tới hai hay nhiều nước và khu vực khác nhau”. Từ định nghĩa trên ta có thể hiểu kinh doanh quốc tế là toàn bộ các giao dịch kinh doanh xuyên biên giới giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng quốc tế và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức kinh tế. Hoạt động này bao gồm từ việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các giai đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến phân phối hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường quốc tế, với mục tiêu tạo ra giá trị gia tăng.
Kinh doanh quốc tế có thể chỉ đơn giản là xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, nhưng cũng có thể là các mạng lưới kinh doanh đa quốc gia hoặc toàn cầu, với hệ thống quản trị và kiểm soát phức tạp. Quyết định đầu tư sản xuất có thể được thực hiện tại một quốc gia, trong khi hệ thống phân phối và tiêu thụ được phát triển ở các khu vực khác nhau trên thế giới, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các thị trường và chuỗi cung ứng toàn cầu. 10 - Môi trường kinh doanh quốc tế Sau khi đã tìm hiểu rõ về môi trường kinh doanh và kinh doanh quốc tế, ta có thể dễ dàng hiểu được môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ bao gồm những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài được nêu ra ở trên mà còn bao gồm những yếu tố khác như sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, các thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia và khu vực, các quy định của các tổ chức quốc tế như WTO, AFTA, EVFTA, CPTPP. Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (2021) đã định nghĩa: “Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính ,.
những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh”. Có thể thấy, môi trường kinh doanh quốc tế là khái niệm bao quát các yếu tố ngoại vi ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp trên toàn cầu. Trong đó, có bốn môi trường chính có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ được tập trung phân tích trong bài nghiên cứu này bao gồm: môi trường chính trị, môi trường pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh giá các yếu tố này là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội, tối ưu hóa hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu và phát triển chiến lược kinh doanh quốc tế hiệu quả.
Nhập khẩu Paul Krugman (2018), trong cuốn sách "International Economics: Theory and Policy" (Kinh tế Quốc tế: Lý thuyết và Chính sách), đã cho rằng: “Nhập khẩu là quá trình mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ các quốc gia khác để đưa vào thị trường nội địa”. Theo WTO định nghĩa: “Nhập khẩu là sự di chuyển hợp pháp của hàng hóa qua biên giới quốc gia với mục đích thương mại”. Theo điều 28, Khoản 2, Luật Thương mại 2005 của Việt Nam :" Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ của Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ 11 khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được gọi là khu vực Hải quan riêng theo quy định của pháp luật ." Tóm lại, có nhiều cách hiểu về khái niệm nhập khẩu, tuy nhiên hiểu một cách khái quát nhất thì nhập khẩu là quá trình đưa hàng hóa hoặc dịch vụ từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trong lãnh thổ quốc gia (như khu vực hải quan riêng) vào thị trường nội địa để phục vụ cho tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh hoặc tái xuất, với mục đích chính là đáp ứng nhu cầu trong nước và thu lợi nhuận thông qua hoạt động thương mại hợp pháp. Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế khi thực hiện hoạt động nhập khẩu thường sử dụng hai hình thức nhập khẩu chính là nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu ủy thác.
Căn cứ theo điều kiện kinh doanh, điều kiện cơ sơ vật chất hạ tầng, năng lực kinh nghiệm cũng như yêu cầu cụ thể của khách hàng mà doanh nghiệp lựa chọn phương thức nhập khẩu phù hợp, theo đó: - Nhập khẩu trực tiếp là việc doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa hay nguyên vật liệu từ thị trường nước ngoài vào trong nước với chi phí và danh nghĩa của mình rồi sau đó phân phối hàng hóa nhập khẩu này đến những khách hàng có nhu cầu trong nước. - Nhập khẩu ủy thác là việc doanh nghiệp ủy thác cho một đơn vị trung gian làm cầu nối thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào thị trường trong nước. Với cáchthức này thì đơn vị trung gian sẽ thực hiện các công việc được giao với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên ủy thác giao cho. Bánh kẹo Bánh kẹo là thực phẩm thiết yếu được chế biến từ các nguyên liệu như bột, đường, sữa, và các hương liệu khác, đồng thời nó còn là một mặt hàng tiêu dùng nhanh (FMCG - Fast Moving Consumer Goods), có nhu cầu cao và ổn định tại nhiều thị trường trên thế giới.
Bánh kẹo có thể được chia thành nhiều loại, bao gồm bánh ngọt, bánh quy, kẹo cứng, kẹo mềm và các sản phẩm khác, mỗi loại có quy trình sản xuất và thành phần khác nhau. Bánh kẹo thường được tiêu thụ vào các dịp lễ hội, sinh nhật, hoặc như món ăn nhẹ hàng ngày. Chúng thường mang tính tiện lợi, dễ dàng mang theo và tiêu thụ, thích hợp cho cả trẻ em và người lớn. 12 Giá cả của bánh kẹo chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm chi phí sản xuất, nguyên liệu đầu vào, và chiến lược định giá của nhà sản xuất.
Tình hình cạnh tranh trên thị trường cũng có thể dẫn đến sự biến động giá cả. Ngoài ra, sự biến động về giá nguyên liệu như đường và các thành phần khác cũng tác động mạnh đến giá bán lẻ của bánh kẹo. Một số lý thuyết về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp 2. Môi trường chính trị - Hệ thống chính trị trên thế giới Theo Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (2021): “Môi trường chính trị là một khái niệm đề cập đến yếu tố chính trị, pháp lý và quyền lực của một quốc gia hoặc một khu vực cụ thể.
Môi trường chính trị là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp. Chính phủ các nước hoặc tổ chức địa phương có quyền lực để tạo ra các quy định và chính sách ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp trên toàn cầu. Điều này có thể bao gồm các quy định về bảo vệ môi trường, quy định về đầu tư và cách thức hoạt động của các doanh nghiệp”. Hệ thống chính trị của một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và ảnh hưởng đến các hệ thống kinh tế và pháp luật của quốc gia đó.
Việc hiểu rõ các hệ thống chính trị khác nhau giúp phân tích sâu hơn về các hệ thống kinh tế và pháp luật liên quan. Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức cơ bản như: Đảng chính trị, Nhà nước và Các tổ chức chính trị - xã hội chính thống. Đảng chính trị là tổ chức đại diện cho các tư tưởng, chính sách và quyền lực trong hệ thống chính trị. Nhà nước là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước và quản lý quốc gia.
Còn Các tổ chức chính trị - xã hội chính thống là các tổ chức có vai trò hỗ trợ hệ thống chính trị trong việc quản lý và điều hành xã hội. Hệ thống chính trị của các quốc gia trên thế giới thường chia thành ba loại chế độ chính: Chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ dân chủ. Về chế độ chuyên chế, nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội, với sự can thiệp sâu rộng vào sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bị hạn chế nghiêm trọng, khi mọi quyết định kinh tế đều do nhà nước đưa 13 ra và điều hành.