Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu ● Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến nhập khẩu hàng hóa ● Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu linh kiện và các sản phẩm ngành bếp từ thị trường Trung Quốc của Công ty Cổ phần Teko Việt Nam ● Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động nhập khẩu linh kiện và các sản phẩm ngành bếp dưới sự ảnh hưởng của môi trường kinh doanh quốc tế từ thị trường Trung Quốc của Công ty Cổ phần Teko Việt Nam. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ TỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2. Môi trường kinh doanh quốc tế - Môi trường kinh doanh: Hoàng Minh Đường và Nguyễn Thừa Lộc (2005), định nghĩa “Môi trường kinh doanh là tập hợp các yếu tố liên quan chặt chẽ với các hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố này có ảnh hưởng bên trong hoặc bên ngoài đối với kết quả, hiệu suất và tăng trưởng của công ty”.
Bùi Xuân Phong (2013) với định nghĩa về môi trường kinh doanh như sau: “Môi trường kinh doanh (MTKD) là sự tổng hợp và tác động lẫn nhau giữa các tác nhân kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp do khác nhau về điều kiện tự nhiên như địa lý, lãnh thổ, khí hậu, khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, trình độ nhận thức, tập quán, lối sống, ngôn ngữ v. nên mỗi quốc gia có môi trường kinh doanh khác nhau. Môi trường kinh doanh bao gồm tổng thể các môi trường thành phần như môi trường luật phát, kinh tế, chính trị, văn hóa, tài chính tiền tệ , … Chúng có tác động và chi phối mạnh mẽ đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh mục đích, hình thức và chức năng hoạt động cho thích ứng nhằm nắm bắt và ứng xử kịp thời trước các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong các lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh đã lựa chọn.” Như vậy, môi trường kinh doanh (Business Environment) có thể hiểu đơn giản là giới hạn không gian, mà ở đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Nó bao gồm tổng thể các yếu tố (bên ngoài và bên trong) vận động tương tác qua lại lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi nói đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường chia ra môi trường bên trong và môi trường bên ngoài. Môi trường kinh doanh bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm: Môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát) và Môi trường vi mô (môi trường tác nghiệp). Khi 14 phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp nghĩa là ta đang phân tích để thấy được thách thức và cơ hội mà bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp kinh doanh. - Kinh doanh quốc tế: Bùi Xuân Phong (2013), “Kinh doanh quốc tế là tổng thể các hoạt động giao dịch, kinh doanh được tạo ra và thực hiện giữa các doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức giữa các quốc gia nhằm thỏa mãn các mục tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đó.
Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức (gọi chung là doanh nghiệp) thuộc hai hay nhiều quốc gia và trong môi trường kinh doanh rộng lớn, đa dạng và phức tạp.” Tạ Văn Lợi và Nguyễn Thị Hường (2017), “Kinh doanh quốc tế là tổng hợp toàn bộ các giao dịch kinh doanh vượt qua các biên giới của hai hay nhiều quốc gia.” Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (2021), “Kinh doanh quốc tế (international business), hiểu đơn giản, là việc thực hiện hoạt động đầu tư vào sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi có liên quan tới hai hay nhiều nước và khu vực khác nhau”. Dựa vào những định nghĩa trước đây, có thể hiểu đơn giản rằng: Kinh doanh quốc tế là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến thương mại hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường vượt qua biên giới của hai hay nhiều quốc gia vì mục đích sinh lời. Kinh doanh quốc tế cũng có thể những hoạt động đơn thuần liên quan tới việc xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một công ty. Nhưng cũng có thể kinh doanh quốc tế là những mạng lưới kinh doanh đa quốc gia, hoặc xuyên quốc gia hoặc trên phạm vi toàn cầu.
Những mạng lưới này có hệ thống quản trị và kiểm soát rất phức tạp mà hoạt động đầu tư vào sản xuất được quyết định ở một nơi, hệ thống phân phối và tiêu dùng lại được phát triển ở một khu vực khác trên thế giới - Môi trường kinh doanh quốc tế: Deepak và Stephen (2002), “Môi trường kinh doanh quốc tế là một tổng hợp vô 15 định hình của một số yếu tố khác nhau theo các chiều hướng địa lý, xã hội, chính trị và kinh tế. Những yếu tố này đan xen phức tạp và thường vượt qua ranh giới chính trị, cũng không phải là tĩnh. Một số yếu tố, chẳng hạn như những yếu tố dựa trên địa lý, kinh tế hoặc văn hóa, vẫn tương đối ổn định theo thời gian, trong khi những yếu tố khác như tỷ giá hối đoái lại dễ biến động hơn”. Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (2021), “Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hoá,.
Những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức, và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh”. Như vậy có thể hiểu rằng, môi trường kinh doanh quốc tế là môi trường kinh doanh ở các quốc gia khác nhau. Môi trường này có thể có nhiều đặc điểm khác biệt so với môi trường trong nước của doanh nghiệp về các yếu tố môi trường như pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính. Những yếu tố này tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Kinh doanh quốc tế gồm các loại môi trường khác nhau, tuy nhiên có 4 môi trường ảnh hưởng sâu sắc đến một hoạt động KDQT là: môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa và môi trường pháp luật. Kinh doanh quốc tế có thể tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của một công ty, bao gồm cả hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu. Việc nghiên cứu và đánh giá các yếu tố trong môi trường kinh doanh quốc tế là rất quan trọng để giúp các công ty tìm kiếm những cơ hội mới và tối ưu hóa hoạt động xuất nhập khẩu của mình trên toàn cầu. Nhập khẩu - Khái niệm nhập khẩu Theo quy định của Khoản 1 Điều 28 Luật thương mại 2005, “Nhập khẩu hàng hóa có thể hiểu là hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu 16 vực đặc biệt nằm ở khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật trên lãnh thổ Việt Nam”.
Nhập khẩu không phải hoạt động buôn bán riêng lẻ mà là hệ thống có tổ chức, việc nhập khẩu của quốc gia phụ thuốc vào thu nhập và tỷ giá hối đoái. Thu nhập bình quân của người dân nước đó tăng thì nhu cầu nhập khẩu lớn, tỷ giá hối đoái cao thì giá hàng nhập khẩu cao hơn. Hiểu một cách đơn giản, nhập khẩu là các giao dịch liên quan về hàng hóa, dịch vụ từ một nguồn bên ngoài thông qua đường biên giới quốc gia. Đây là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, không phải dạng bán buôn riêng lẻ mà được điều hành dưới một hệ thống, bao gồm cả các tổ chức bên trong lẫn bên ngoài quốc gia nhập khẩu.
Sự trao đổi hàng hóa, nguyên vật liệu, dịch vụ này sẽ dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá mà tiền tệ được dùng làm môi giới. - Phân loại các hình thức nhập khẩu: Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế khi thực hiện hoạt động nhập khẩu thường sử dụng hai hình thức nhập khẩu chính là nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu ủy thác (Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga, 2021). + Nhập khẩu trực tiếp: là việc doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa hay nguyên vật liệu từ thị trường nước ngoài vào trong nước với chi phí và danh nghĩa của mình rồi sau đó phân phối hàng hóa nhập khẩu này đến những khách hàng có nhu cầu trong nước. + Nhập khẩu ủy thác: là doanh nghiệp ủy thác cho một đơn vị trung gian làm cầu nối thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào trong nước.
Với cách thức này, đơn vị trung gian sẽ thực hiện các công việc được giao với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên ủy thác giao cho. Linh kiện và các sản phẩm ngành bếp - Các sản phẩm ngành bếp: Hiểu đơn giản là những dòng sản phẩm, đồ dùng được sử dụng trong căn bếp để hỗ trợ người nội trợ trong quá trình nấu nướng, mang đến những món ăn ngon, hấp dẫn và mang lại sự tiện lợi cho người sử dụng. Đồng thời, đây cũng được xem là các sản 17 phẩm làm đẹp trang trí cho căn bếp hiện đại, tiện nghi hơn. Gồm các thiết bị hỗ trợ nấu ăn, thiết bị hỗ trợ bài trí và nhiều dụng cụ nhà bếp khác.
Sự ra đời của những thiết bị này đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong việc đáp ứng nhu cầu nấu nướng, giúp người nội trợ có nhiều có thể dành nhiều thời gian hơn cho việc chăm sóc cho gia đình và bản thân. - Phân loại các sản phẩm ngành bếp: Vì tính ứng dụng cao và là loại đồ dùng thiết yếu cho mọi gia đình trong cuộc sống hàng ngày nên ngành bếp rất đa dạng về sản phẩm và chủng loại.