Chương 1: Lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại Chương 2: Thực trạng tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian qua Chương 3: Giải pháp cải thiện cán cân thương mại Việt Nam trong thời gian tới. MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀCÁN CÂN THƯƠNG MẠI 1. Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 1. Nội dung cơ bản về tỷ giá 1.
Khái niệm Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác. Hiện tại có hai phương pháp yết tỷ giá, đó là: Yết tỷ giá trực tiếp: “Tỷ giá là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng số đơn vị nội tệ”. Hầu hết các nước trên thế giới đều dùng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp, trong đó có Việt Nam. Yết tỷ giá gián tiếp: “Tỷ giá là giá của một đơn vị nội tệ tính bằng số đơn vị ngoại tệ”.
Hiện nay, trên thế giới chỉ có 5 đồng tiền dùng phương pháp yết tỷ giá gián tiếp, gồm: GBP, AUD, NZD, EUR và SDR. Nhằm mục đích đánh giá về tác động của tỷ giá với nền kinh tế Việt Nam nói chung và cán cân thương mại của Việt Nam nói riêng, tỷ giá VND/USD được quy ước như sau: Tỷ giá (E) là giá cả của một đơn vị ngoại tệ được thể hiện bằng số đơn vị nội tệ, tức ngoại tệ đóng vai trò là đồng yết giá, còn nội tệ đóng vai trò là đồng định giá. Hay nói cách khác, tỷ giá (E) là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. Phân loại tỷ giá Căn cứ tính chất tác động đến thương mại quốc tế, có 4 loại tỷ giá sau: a) Tỷ giá danh nghĩa song phương – NER Tỷ giá danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng.
Ký hiệu viết tắt NER, rút gọn bằng chữ E. Vì P và E đều biểu hiện giá nên bản chất chúng không có nhiều khác biệt, chỉ có điều P là giá hàng hóa thông thường, còn E là giá hàng hóa đặc biệt (ngoại tệ). Sự biến động của tỷ giá được biểu thị bằng chỉ số. Chỉ số tỷ giá được tính: (i) so sánh tỷ giá tại các thời kỳ khác nhau với tỷ giá kỳ cơ sở : et0 = Et/E0 (ii) so sánh tỷ giá kỳ sau với kỳ trước, cụ thể: et0 = Et/Et-1 Khi tỷ giá tăng, đồng tiền yết giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá 3 hơn, nên gọi là lên giá; đồng tiền định giá trở nên đổi được ít đồng tiền yết giá hơn, nên gọi là giảm giá.
Khi tỷ giá giảm, đồng tiền yết giá trở nên đổi được ít đồng tiền định giá hơn, nên gọi là giảm giá; đồng tiền định giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền yết giá hơn, nên gọi là lên giá. Nếu chỉ căn cứ vào sự thay đổi của tỷ giá danh nghĩa thì chúng ta chưa thể xác định được tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại như thế nào, bởi vì CCTMQT còn phụ thuộc vào biến động lạm phát giữa hai nước. Để khắc phục hạn chế này và đề quan sát được tác động của tỷ giá lên CCTMQT, người ta sử dụng khái niệm tỷ giá thực dưới đây. b) Tỷ giá thực song phương – RER Tỷ giá thực song phương bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
Ký hiệu viết tắt RER, rút gọn bằng chữ er. Tỷ giá thực trạng thái tĩnh và ý nghĩa: Tỷ giá thực trạng thái tĩnh được xác định theo công thức: P* E. = P P Trong đó: er – là tỷ giá thực (dạng chỉ số). E – là tỷ giá danh nghĩa (số đơn vị nội tệ trên ngoại tệ).
P* – là mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ. P – là mức giá cả ở trong nước bằng nội tệ (VND). Với các định nghĩa này, cho thấy tỷ giá thực không phải là tỷ giá đích thực mà chỉ là dạng chỉ số. Do tử số của công thức trên biểu diễn giá hàng hóa ở nước ngoài quy thành nội tệ (VND), nên về bản chất tỷ giá thực thể hiện sự so sánh mức giá hàng hóa ở trong nước và ở nước ngoài khi cả hai đều tính bằng nội tệ.
Từ đó, ta có: Nếu er = 1 (tức E.P* = P), lúc đó mua hàng hóa ở nước ngoài hay trong nước là như nhau nên ta nói rằng hai đồng tiền là ngang giá sức mua (PPP), nghĩa là khi chuyển đổi mỗi nội tệ ra ngoại tệ ta mua được số hàng hóa là như nhau ở trong nước và ở nước ngoài. Nếu er> 1 (tức E.P*> P), lúc đó mỗi VND sẽ mua được ít hàng hóa hơn ở nước ngoài so với trong nước, nên VND được gọi là định giá thực thấp. Đồng tiền được định giá thực thấp sẽ nâng cao vị thế cạnh tranh thương mại của quốc gia so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu được nhiều hơn, còn nhập khẩu thì ít hơn. 4 Nếu er< 1 (tức E.P*< P), lúc đó mỗi VND sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn ở nước ngoài so với trong nước, nên VND được gọi là định giá thực cao.
Đồng tiền được định giá thực cao sẽ hạ thấp vị thế cạnh tranh thương mại của quốc gia so với nước bạn hàng, nghĩa là xuất khẩu thì ít hơn, còn nhập khẩu thì nhiều hơn. Tỷ giá thực trạng thái động và ý nghĩa: Tỷ giá thực ở trạng thái tĩnh, ta chỉ quan sát được tỷ giá thực tại một thời điểm. Hơn nữa, hiện nay các quốc gia không tính toán và không công bố mức giá của một rổ hàng hóa nào.Thay vào đó, các quốc gia công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI).Vì vậy, để tính toán và quan sát được sự vận động của tỷ giá thực từ thời điểm này sang thời điểm khác, người ta sử dụng tỷ giá thực dạng động.100% CPIi Ý nghĩa của sự thay đổi tỷ giá thực: Tỷ giá thực tăng, làm cho sức mua tương đối của VND giảm, nên ta nói rằng VND giảm giá thực. Như vậy, một đồng tiền giảm giá thực khi sức mua đối ngoại của nó giảm tương đối (giảm nhanh hơn hoặc tăng chậm hơn) so với đồng tiền khác từ thời điểm này sang thời điểm khác.
Đồng tiền giảm giá thực có tác dụng làm tăng sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này. Tỷ giá thực giảm, làm cho sức mua tương đối của VND tăng, nên ta nói rằng VND lên giá thực. Như vậy, một đồng tiền lên giá thực khi sức mua đối ngoại của nó tăng tương đối so với đồng tiền khác từ thời điểm này sang thời điểm khác. Đồng tiền lên giá thực có tác dụng làm xói mòn sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này.
Tỷ giá thực không đổi có tác dụng duy trì cố định sức cạnh tranh thương mại quốc tế. c) Tỷ giá danh nghĩa đa phương – NEER Vì mỗi đồng tiền đều có tỷ giá với đồng tiền khác, nên một đồng tiền có thể lên giá với đồng tiền này, nhưng lại giảm giá với đồng tiền khác. Vậy, để biết được từ thời điểm này sang thời điểm khác, một đồng tiền là lên giá hay giảm giá với tất cả các đồng tiền còn lại, người ta dùng phương pháp tính tỷ giá danh nghĩa đa phương. Tỷ giá danh nghĩa đa phương là chỉ số tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại.
Công thức tính NEER 5 n NEERi = eij * wj j 1 Trong đó: NEER: tỷ giá danh nghĩa đa phương. e: chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương. w: tỷ trọng của tỷ giá song phương. j: số thứ tự của các tỷ giá danh nghĩa song phương.
i: kỳ tính toán. Ý nghĩa của tỷ giá danh nghĩa đa phương: Nếu NEER > 1, thì VND được xem là giảm giá (mất giá) đối với tất cả các đồng tiền còn lại. Nếu NEER < 1, thì VND được xem là lên giá (được giá) đối với tất cả các đồng tiền còn lại. Vì NEER chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa các đồng tiền, do đó, đối với mỗi quốc gia, khi NEER tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này đối với các nước còn lại.
Để khắc phục hạn chế này và để quan sát tác động của tỷ giá của một nước đến thương mại quốc tế với tất cả các nước còn lại, người ta sử dụng khái niệm tỷ giá thực đa phương. d) Tỷ giá thực đa phương – REER Tỷ giá thực đa phương bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. Công thức tính: CPIiw REERi NEERi. CPIiVN n Trong đó: CPIwi = CPIji * GDPj j 1 CPIiwlà chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ.
CPIiVN là chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ. j là số thứ tự của các đồng tiền trong rổ. i là kỳ tính toán. 6 Ý nghĩa của tỷ giá thực đa phương: Xét ở trạng thái tĩnh: Nếu REERi > 1, thì nội tệ được coi là định giá thực thấp, giúp cải thiện được cán cân thương mại.
Nếu REERi < 1, nội tệ được coi là định giá thực cao, tác động làm cán cân thương mại trở nên xấu đi. Nếu REERi = 1, đồng tiền ở trạng thái ngang giá sức mua, tác động làm cán cân thương mại cân bằng. Xét ở trạng thái động: Nếu tỷ giá thực tăng, có tác dụng kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại. Nếu tỷ giá thực giảm, có tác dụng kích thích tăng nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu, làm cho cán cân vãng lai trở nên xấu đi.
Nếu tỷ giá thực không đổi, trạng thái cán cân thương mại là không đổi. Về ý nghĩa của REER là tương tự như er, tuy nhiên, REER có ý nghĩa hơn ở chỗ nó là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tất cả các nước bạn hàng còn lại. Do vậy, hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố chi tiêu REER.