Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về TTXH Nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2013: “Social networks and Internet usages by the young generations” (Mạng xã hội và thói quen sử dụng Internet của thế hệ trẻ). Nghiên cứu này đã chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng mạng xã hội và Internet, so sánh những thói quen này với những hành vi trong đời thực cũng như những quan điểm của thế hệ trẻ về mạng xã hội, Internet.
Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của mạng xã hội và Internet trong xã hội hiện đại. Một nghiên cứu khác của Isak Ladegaard với tên gọi “Young and old use social media for surprisingly different reasons” (Những người trẻ và già sử dụng TTXH với những lý do đáng ngạc nhiên) đã cho thấy những lý do mà mọi người tham gia sử dụng mạng xã hội, mạng xã hội đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào cũng như xu hướng sử dụng mạng xã hội trong tương lai như thế nào. Bên cạnh đó, cũng có không ít những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với thế hệ trẻ, tiêu biểu như cuộc tranh luận trên trang web Debate.org với tiêu đề: Is social networking bad for today's generation ? (Có phải mạng xã hội là xấu đối với thế hệ ngày nay ?). Đã có rất nhiều ý kiến vào tranh luận, trong đó có 58% đồng ý rằng mạng xã hội đang có những tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ, 42% không đồng ý và kể ra những ưu điểm mà mạng xã hội mang lại [dẫn theo 11].
Tác giả Pavica Sheldon, Đại học Alabama, Mỹ, trong cuốn sách (Social Media: Principles and Appliatons) (Các phương tiện TTXH: Nguyên tắc và ứng dụng) nghiên cứu về tác động đa dạng của phương tiện TTXH tới các lĩnh vực 5 chính trị, giáo dục. đã dành hai chương riêng nghiên cứu về chứng “nghiện Social Media” và đánh giá các phương tiện TTXH và thảm họa truyền thông. Theo đó tác giả liệt kê và phân tích những hiện tượng trong giao tiếp và truyền thông mang hiệu ứng toàn cầu dưới tác động của phương tiện TTXH và hệ lụy của nó. Tác giả đồng thời cho rằng, internet và phương tiện TTXH không chỉ là môi trường công nghệ, môi trường kinh doanh hay liên kết xã hội mà còn là môi trường văn hóa, giáo dục rất quan trọng, ảnh hưởng tới việc hình thành nhân cách và góp phần định hình văn hóa nhân loại trong tương lai.
Do đó việc tương tác với tinh thần tích cực và tham gia có trách nhiệm trên môi trường mạng giống như trong cuộc sống thực là văn hóa và kỹ năng phải có của tất cả cư dân mạng. Ở Việt Nam nghiên cứu về truyền thông xã hội có nhóm tác giả Trần Hữu Luyến và cộng sự trong nghiên cứu “Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên hiện nay” đã chỉ ra rằng: trước tác động của các phương tiện TTXH, các bậc phụ huynh không nên cấm con cái sử dụng. Cha mẹ cần dành thời gian để lắng nghe, hiểu và quan tâm đến việc sử dụng các phương tiện TTXH của giới trẻ để có thể trả lời hay giúp đỡ con cái khi cần. Cha mẹ thường phóng đại quá mức về những nguy hiểm mà các phương tiện TTXH mang lại cho con cái.
Các bậc cha mẹ nên xây dựng mối quan hệ tin tưởng với con cái và cũng cần nhập cuộc trang bị cho mình những kiến thức sử dụng các phương tiện TTXH để hướng dẫn con trẻ cách dùng hợp lý và để hiểu rằng việc sử dụng các phương tiện TTXH đúng đắn mang lại rất nhiều lợi ích cho giới trẻ. Các bậc phụ huynh cần thường xuyên nhắc nhở con cái về những điều được làm, không được làm trên môi trường TTXH, giúp thanh thiếu niên có nhận thức và có khả năng tránh những nguy cơ mất an toàn trên môi trường mạng [20]. Tác giả Lê Hải trong nghiên cứu “Phương tiện TTXH với giới trẻ Việt Nam” đã chỉ ra những đặc điểm tâm sinh lý của giới trẻ ảnh hưởng tới quá trình sử dụng các phương tiện TTXH; thực trạng sử dụng các phương tiện TTXH của 6 giới trẻ Việt Nam hiện nay và mức độ làm chủ trong ứng xử của giới trẻ qua sử dụng các phương tiện TTXH. Xuất phát từ những tồn tại hiện nay trong sử dụng các phương tiện TTXH, tác giả đã đưa ra hệ giải pháp nhằm hạn chế các yếu tố tiêu cực, nhân rộng các yếu tố tích cực từ sự tác động của chính phương tiện TTXH [13].
Những nghiên cứu về GDĐĐ Từ thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN) nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo đã rất coi trọng vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý học. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục được ghi trong Tứ thư và Ngũ Kinh nhưng cụ thể và tập trung nhất là các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu”. Khổng Tử xây dựng học thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, ông chủ trương “Lễ trị”, lấy “ Lễ” để xử ở đời, người phải lấy tu thân làm gốc.
Phương châm giáo dục này còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Socrate (469-399 TCN), nhà triết học cổ đại coi cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, con người phải tự ý thức, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp khoa học nhận thức.
Aristote (384 - 322 TCN) cho rằng: Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức, không có đạo đức, tri thức sẽ khó thành đạt. Là người phát triển tư tưởng của Aristote, Xixêrô M.T (106 - 43 TCN) một lần nữa khẳng định: Triết lý về đạo đức là sự chuẩn bị tư duy để tiếp nhận hạt giống trí tuệ. Thế kỷ thứ XVII, Komensky (1592 - 1670) nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ với tác phẩm nổi tiếng - “Khoa sư phạm vĩ đại”. Komensky chủ trương việc giáo dục con người phải tiến hành theo qui luật chung của tự nhiên, bởi lẽ trước khi con người trở thành một thành viên của xã hội, con người vốn dĩ là một sinh vật hoàn thiện nhất của tạo hóa.
Ông 7 đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và môi trường bên ngoài để GDĐĐ học sinh. Ông luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em cũng như những cây nhỏ trong vườn ươm; “Để cây có lớn một cách lành mạnh, nhất thiết phải được quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót. Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai là nghề nuôi dạy trẻ “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính.Mác (1818-1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, nhận thức, năng lực óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên xã hội xảy ra xung quanh". Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A.C Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình).
Trong tác phẩm này ông nhấn mạnh đến vấn đề GDĐĐ thông qua nhiều phương pháp như nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể. Tại Việt Nam, vấn đề đạo đức, GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, nổi bật là các công trình nghiên cứu có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này của các tác giả Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Hà Thế Ngữ, Phạm Hoàng Gia… và nhiều tác giả khác. Để tìm ra các giải pháp về GDĐĐ các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thế Ngữ đã đề cập đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh 8 quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh [22].
Tác giả Thái Duy Tuyên đặc biệt nhấn mạnh rằng một vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay là tăng cường GDĐĐ, sau khi phân tích sự biến đổi kinh tế - xã hội thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, tác giả đề xuất một số đổi mới về nội dung và phương pháp GDĐĐ và đặc biệt là việc quản lý của gia đình đối với học sinh [34]. Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong tác phẩm “Đạo đức học” đã đề cập đến các vấn đề GDĐĐ nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề GDĐĐ như phạm trù GDĐĐ trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu. từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường phổ thông [6].