ĐẶT VẤN ĐỀ Tây Bắc là một vùng lãnh thổ rộng lớn nằm ở phía Bắc của Việt Nam, là vùng cao, dốc bị chia cắt mạnh mẽ nhất nƣớc ta, có nhiều dãy nối cao chạy theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhƣỡng bị thoái hoá. Mƣa lớn và tập trung gây ra lũ nhƣng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thƣờng xảy ra nhƣng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.Tây Bắc còn là một trong những vùng rất quan trọng cho sự phát triển và cân bằng đa dạng sinh học cho Việt Nam. Diện tích đất lâm nghiệp, diện tích rừng của Tây Bắc là khá lớn, nhƣng chủ yếu là diện tích rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, vƣờn quốc gia, khu vực bảo vệ nghiêm ngặt.
Nhƣng trong những năm gần đây, diện tích rừng bị thu hẹp lại đáng kể, giảm đi nhiều về số lƣợng thực vật. Đặc điểm ở vùng đồi núi lại là nơi đa dạng về hệ sinh thái. Một phần nguyên nhân về việc giảm diện tích rừng là do nạn phá rừng làm nƣơng rẫy, cháy rừng,… Nhiều diện tích rừng đang phải chịu những biến đổi nhanh chóng gây ra bởi những thay đổi đáng kể của khí hậu trong thời gian gần đây. Từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2016 trên địa bàn KBTTN Copia , huyện Thuận Châu , tỉnh Sơn La xảy ra hiện tƣợng thời tiết cực đoan bất thƣờng, mƣa rét, nhiệt độ xuống dƣới 00C, băng tuyết hình thành với cƣờng độ cao, thời gian kéo dài, khối lƣợng lớn làm thiệt hại nặng nề đến quần thể thực vật rừng, đặc biệt làm gẫy đổ các loài cây lá rộng, nhiều cây bị bật gốc, gẫy cành ngọn, giảm độ tàn che của tán cây, làm thay đổi hoàn cảnh rừng, hệ sinh thái rừng biến động đáng kể.
Sau mƣa rét, lƣợng cành cây lá rụng tập trung nhiều, thảm thực vật dƣới tán rừng bị khô héo, chết hàng loạt. Ảnh hƣởng tới đa dạng sinh học và tăng nguy cơ cháy rừng ở khu vực này. Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thân cùng với sự đồng ý nhất trí của Khoa Quản Lý Tài Nguyên Rừng Và Môi Trường trường 1 Đại Học Lâm Nghiệp, chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng, tôi đã thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp: “Ảnh hƣởng của thời tiết cực đoan đến tài nguyên thực vật rừng tại vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Copia ,tỉnh Sơn La”. Vị trí Tp.
Sơn La 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở khoa học của đề tài 1. Biến đổi khí hậu Khái niệm: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, đƣợc quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần khí quyển, và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát đƣợc trong khảng thời gian so sánh đƣợc. ( Theo định nghĩa của Công ƣớc khung Liên Hiệp Quốc (UNFCCC) ) Nguyên nhân: Hiệu ứng nhà kính tự nhiên duy trì sự sống trên trái đất, tuy nhiên, với sự can thiệp quá mức của loài ngƣời đã làm tăng nồng độ của các loại khí nhà kính trong bầu khí quyển, gia tăng hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên và gây ra hiện tƣợng biến đổi khí hậu. BĐKH ảnh hưởng tới Việt Nam Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam - Thời tiết ở Việt Nam những năm gần đây ngày càng bất thƣờng.
Đặc biệt, Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hƣởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH) do có bờ biển dài. Diện tích rừng ở một số tỉnh đang có xu hƣớng giảm vì cháy rừng và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan. Đặc biệt, trong những năm trở lại đây, lũ lụt và hạn hán xảy ra nhiều hơn. Nền nhiệt độ trung bình tăng kỉ lục ( đạt 400C vào 12h trƣa tại Hà Nội ).
Một số tỉnh Tây Bắc còn xảy ra hiện tƣợng băng giá, tuyết,… Tại huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La, vào tháng 1 năm 2016 có xảy ra hiện tƣợng băng tuyết trên diện rộng, gây ảnh hƣởng lớn đến hệ thực vật tại đây. Tình hình nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam 1.BĐKH ở Việt Nam - Ở Miền núi và Trung du bắc bộ khi phân tích trạm Phú Hộ cho thấy: Nhiệt độ trunh bình tháng 1 có xu thế tăng nhƣng không đáng kể; Nhiệt độ tháng 7 ít thay đổi ;Nhiệt độ trung bình năm có xu thế tăng. - Ở đồng bằng Bắc Bộ: Trạm Hà Nội nhiệt độ trung bình tháng I, tháng VII và cả năm nhiệt độ có xu thế tăng từ 0,2 - 0,4 0C. - BĐKH đang là một trong những thách thức quan trọng nhất đối với sự phát triển bền vững ở vùng miền núi phía bắc.
- BĐKH ở vùng miền núi phía bắc có nhiều biểu hiện khác với khu vực Trung bộ, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, do là vùng có thu nhập thấp nên tỷ lệ thiệt hại do những hiện tƣợng thời tiết khí hậu cực đoan cao hơn các vùng khác 1. Diễn biến BĐKH tại Việt Nam - Nhiệt độ: theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ( 1951 đến 2000) nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1931 đến 1960). Lƣợng mƣa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lƣợng mƣa trung bình trong 9 thập kỷ vừa qua( 1911 đến 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên nhƣng cũng có giai đoạn giảm xuống.
Dự kiến xu thế BĐKH Việt Nam trong những năm tới. - Dự báo nửa đầu thế kỷ 21 biến đổi khí hậu sẽ xãy ra ở Việt Nam. Theo kết quả tính toán đƣợc thực hiện trên hệ thống máy tính, cho thấy nhiệt độ không khí trung bình trên khu vực Việt Nam tăng lên đáng kể, có thể lên tới 0.3ºC/thập kỷ trong giai đoạn 2000-2050, ngoại trừ một phần nhỏ ở khu vực Bắc Trung Bộ. Thích ứng với BĐKH ở Việt Nam - Ở Việt Nam, tác động của biến đổi khí hậu cũng đã đƣợc nhận thấy qua nhiều dấu hiệu, bằng chứng.
- Có hai trƣờng hợp sẽ xãy ra hiện tƣợng biến đổi khí hậu - Trong trƣờng hợp thứ nhất (biến đổi từ từ), con ngƣời và các hệ sinh thái nói chung có thể tự thích nghi dần, nhƣng một số loài nếu không có khả năng hoặc không có điều kiện thích nghi sẽ dần biến mất dẫn đến bị diệt vong. Sự nguy hiểm do tác động tiêu cực gây nên bởi sự biến đổi này là chúng chỉ có thể đƣợc nhận thấy sau một khoảng thời gian đủ dài. Nếu không dự tính đƣợc thì hệ quả mang lại sẽ rất nặng nề và khó có thể phục hồi - Trong trƣờng hợp thứ hai, sự gia tăng của các hiện tƣợng thời tiết, khí hậu cực đoan.Thích ứng với biến đổi khí hậu trong trƣờng hợp này là xây dựng các chiến lƣợc, kế hoạch phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai. Nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cƣờng sức chống chịu của cộng đồng, nâng cao chất lƣợng, độ chính xác của các thông tin dự báo thời tiết, khí hậu, thủy văn,., xây dựng và bảo đảm độ chính xác, độ ổn định của các hệ thống cảnh báo thiên tai,.
là những vấn đề mấu chốt của chiến lƣợc thích ứng với sự biến đổi này.3 Biến đổi khí hậu tác động tới lâm nghiệp 1. Tác động đối với lâm nghiệp - Đối với sản xuất lâm nghiệp, BĐKH là loại thiên tai tồi tệ nhất, xảy ra ngày càng nghiêm trọng với tần suất và quy mô ngày càng lớn gây nhiều thiệt hại và kéo dài dai dẳng. Trong đó, hai yếu tố liên quan chặt chẽ tới biểu hiện của biến đổi khí hậu là nhiệt độ và lƣợng mƣa. Theo báo cáo về Biến đổi khí hậu và Phát triển con ngƣời ở Việt Nam của Chƣơng trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP, 2007,), từ năm 1900 đến nay, mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình ở Viêt Nam tăng 0,1 0C.
Lƣợng mƣa trung bình hàng năm sẽ tăng 2,5-4,8 5 %. Biến đổi khí hậu đã và đang làm cho lƣợng mƣa thay đổi bất thƣờng và rất khác nhau theo mùa và theo vùng(Schaefer, 2003). - Biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi tổ thành và cấu trúc của một số hệ sinh thái rừng, buộc các loài phải di cƣ và tìm cách thích ứng với điều kiện sống mới. Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng nguy cơ tuyệt chủng một số loài động thực vật, gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Hậu quả kéo theo của BDKH là các hiện tƣợng thời tiết cực đoan xảy ra nhiều hơn, trong đó các hiện tƣợng nhƣ băng tuyết, lũ lụt, hạn hán,… cũng đã và đang tác động trực tiếp đến hệ thực vật. Làm giảm trữ lƣợng và chất lƣợng rừng, mất cân bằng sinh thái, cháy rừng. Những nỗ lực nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trong lâm nghiệp. - Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của lâm nghiệp đối với việc giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, Cục Lâm nghiệp đã và đang phối hợp cùng các bên liên quan xây dựng Kế hoạch hành động giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong đó chú trọng vào việc bảo tồn và phát triển bền vững hệ thống rừng tự nhiên; thiết lập và quản lý bền vững hệ thống rừng phòng hộ ven biển, bao gồm cả rừng ngập mặn; xây dựng và triển khai thí điểm các dự án về cơ chế phát triển sạch trong lâm nghiệp; tăng cƣờng các sáng kiến quản lý đất lâm nghiệp bền vững gắn với giảm nghèo.
Biến đổi khí hậu làm suy giảm quỹ đất rừng và diện tích rừng - Diện tích rừng ngập mặn ven biển chịu tổn thất to lớn do nƣớc biển dâng; - Nguy cơ chuyển dịch diện tích đất lâm nghiệp sang đất dành cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác là tác động gián tiếp song có thể coi là tác động lớn nhất đối với sản xuất lâm nghiệp. Độ che phủ rừng thay đổi theo không gian và thời gian, đặc biệt kể từ khi đất nƣớc thống nhất đến nay độ che phủ 6 giảm từ 43% (1943) xuống còn khoảng 28% (1995) nhƣng tăng lên và đạt 38.4 BĐKH làm suy giảm chất lượng rừng - Chất lƣợng rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm.