đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, nội dung, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Phần 2: Cơ sở lý thuyết Trong phần này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về các khái niệm cơ bản liên quan đến quản trị doanh nghiệp, thanh khoản và giá trị công ty. Sau đó, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm đã tồn tại trên thế giới xoay quanh 3 mối quan hệ sau đây: (i) thanh khoản cổ phiếu và quản trị doanh nghiệp (ii) thanh khoản cổ phiếu và giá trị công ty và cuối cùng là (iii) quản trị doanh nghiệp và giá trị công ty. Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Trong phần này, tác giả trình bày 2 giả thuyết nghiên cứu.
Mô hình nghiên cứu, cách xây dựng các biến trong mô hình. Cuối cùng là các dữ liệu cần thiết để thực hiện nghiên cứu, bao gồm các xây dựng mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu. 7 Phần 4: Kết quả nghiên cứu Trong phần này, tác giả thực hiện các mô tả thống kê các biến, phân tích tương quan, thực hiện các kiểm định của mô hình hồi quy… Trình bày và thảo luận các kết quả hồi quy trong mô hình thực nghiệm tại Việt Nam. Bao gồm 2 phương pháp hồi quy chính là hồi quy OLS với dữ liệu bảng và hồi quy với hệ phương trình đồng thời (simultaneous equations) theo phương pháp hồi quy SURE.
Phần 5: Kết Luận Trong phần này, tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu. Những hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo cũng được trình bày. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về quản trị doanh nghiệp (Corporate Governance) Thuật ngữ “quản trị doanh nghiệp” (Corporate Governance) được sử dụng từ những năm 1980.
Theo thời gian, các nhà nghiên cứu, theo mỗi cách tiếp cận riêng, đưa ra những khái niệm riêng. Laporta cùng cộng sự (2000), quản trị công ty được diễn tả như là “một tập hợp các cơ chế mà qua đó các nhà đầu tư bên ngoài bảo vệ mình trước sự chiếm đoạt bởi những người bên trong. Nói cách khác, nó được xem như là một hệ thống bao gồm một loạt các thông lệ (các chuẩn mực kế toán, các quy định liên quan đến công bố thông tin tài chính, thù lao nhà quản lý, quy mô và thành phần Ban giám đốc công ty) và các thể chế bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu công ty”. Barrett (2002), định nghĩa “Quản trị công ty bao quanh vấn đề một tổ chức được quản lý như thế nào, cấu trúc quản trịcủa doanh nghiệp với các cấu trúc khác, văn hóa, các chính sách và chiến lược, và những cách thức qua đó nó có mối quan hệ như thế nào đến các bên liên quan”.
Cadbury, 2003 định nghĩa, “Quản trị công ty liên quan đến việc giữ cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế với xã hội và giữa các mục tiêu cá nhân với công đoàn. Cơ cấu quản trị khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực và đồng thời đòi hỏi trách nhiệm đối với cương vị quản lý các nguồn lực đó”. Theo Kim cùng cộng sự (2010), “Quản trị công ty thể hiện mối quan hệ giữa các cổ đông, Hội đồng quản trị và các nhà quản lý cấp cao trong việc xác định đường lối và kết quả hoạt động của công ty. Nó bao gồm mối quan hệ giữa nhiều người chơi có liên quan (các bên liên quan) và các mục tiêu mà công ty được quản trị”.
Keasey và cộng sự (2003), định nghĩa quản trị công ty là “một khuôn khổ cho việc giám sát có hiệu quả, quy tắc và kiểm soát công ty cho phép sự lựa chọn giữa các cơ chế bên trong và bên ngoài nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra. Các cơ chế bên 9 trong bao gồm: thành phần Hội đồng quản trị, sở hữu của nhà quản lý và sở hữu của các bên không tham gia quản lý (bao gồm sở hữu của các tổ chức). Trong khi đó, cơ chế bên ngoài bao gồm: kiểm toán theo quy định”. V cùng cộng sự (2013), chỉ ra “quản trị công ty nghiên cứu cách để đảm bảo, tạo động lực quản lý hiệu quả cho các doanh nghiệp thông qua sử dụng cơ cấu, chẳng hạn như thiết kế bộ máy tổ chức, Ban Giám đốc và Hội đồng Quản trị” và “Sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào chủ yếu phụ thuộc vào công tác quản trị công ty tốt và hiệu quả”.
RA và các cộng sự (2004) đưa ra định nghĩa về quản trị doanh nghiệp như sau: quản trị doanh nghiệp là một khuôn khổ do hội đồng quản trị và quản lý cấp cao thiết lập và theo đuổi các mục tiêu trong đó có sự phân chia rõ ràng quyền sở hữu và kiểm soát. Nó bao gồm việc thiết lập và duy trì các cơ chế phê duyệt độc lập trong tổ chức để đảm bảo độ tin cậy của hệ thống kiểm soát được sử dụng bởi Hội đồng quản trị để giám sát việc tuân thủ các chiến lược được thông qua và rủi ro tương ứng. Trong khi đó, trong các nguyên tác quản trị của nhóm các quốc gia OECD (2004), cho rằng “quản trị doanh nghiệp liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Cổ đông và các bên có liên quan khác. Quản trị doanh nghiệp cũng thiết lập cấu trúc qua đó, giúp xây dựng các mục tiêu của công ty, xác định phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và giám sát hiệu quản thực hiện mục tiêu.
Như vậy, tựu trung lại, quản trị doanh nghiệp sẽ là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm: Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; Đối xử công bằng giữa các cổ đông; Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến Công ty; 10 Minh bạch trong hoạt động của Công ty; Hội đồng Quản trị lãnh đạo và kiểm soát Công ty có hiệu quả; Tuân thủ quy định pháp luật hiện hành. Để đo lường biến số quản trị doanh nghiệp, đã có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây. Li cùng cộng sự (2012) trong nghiên cứu về tình huống của Nga đã sử dụng biến TD (transparency và disclosure).
Một số cách tiếp cận khác, Balasubramanian cùng các cộng sự (2010) xây dựng một chỉ số quản trị doanh nghiệp (Indian Corporate Governance Index – ICGI) trong một nghiên cứu tại Ấn Độ. Trong các nghiên cứu khác, Connelly cùng cộng sự (2012), Prommin. P cùng các cộng sự (2014) cũng đã xây dựng một chỉ số quản trị cho các doanh nghiệp tại Thái Lan. Cách mà Prommin.
P cùng các cộng sự (2014) xây dựng lại dựa trên cách mà Sawicki (2009) đã thực hiện trong nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và chính sách cổ tức ở các quốc gia Đông Á (bao gồm: Indonesia, Malaysia, Thailand, Hong Kong và Singapore). Ở phần sau của nghiên cứu, tác giả sẽ trình bày cụ thể hơn về cách áp dụng cho chỉ số quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Tiếp theo, tác giả cũng trình bày các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp, thanh khoản và giá trị công ty. Thanh khoản (Liquidity) Thanh khoản (Liquidity) là việc chuyển đổi một tài sản thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu hay còn gọi là tính lỏng, tính lưu động.
Ivanovic (1997) đã định nghĩa, tính thanh khoản có thể được định nghĩa là khả năng chuyển đổi liên tục của tài sản từ dạng này sang dạng khác. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. 11 Trong khi đó, chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian. Nếu một chứng khoán khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, nhà đầu tư sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn, và điều này gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán.
Theo đó, Amihud, Mendelson, và Pedersen (2005) đã chỉ ra, tính thanh khoản là việc dễ dàng mua đi bán lại một chứng khoán. Ở phần sau của nghiên cứu, tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa thanh khoản của chứng khoán lên việc quản trị doanh nghiệp và giá trị công ty. Đồng thời, các cách đo lường thanh khoản cổ phiếu cũng được thảo luận. Tthanh khoản là giá trị giao dịch hoặc khối lượng giao dịch của cổ phiếu trong một phiên giao dịch.
Thanh khoản cũng được đo lường bằng tỷ số tổng số ngày cổ phiếu không có biến động giá so với tổng số ngày giao dịch trong năm (pzr – proportion of zero-return), được phát triển bởi Lesmond và các cộng sự (1999) và Lesmond (2005). Thanh khoản cũng được tính bởi chỉ số ilq (illiquidity) được phát triển bởi Amihud (2002). Giá trị công ty (Firm value) Giá trị công ty, hay giá trị doanh nghiệp luôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm của các giám đốc tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp, của các cổ đông, công nhân viên, các đối tác, các chủ nợ… Ngoài ra, giá trị doanh nghiệp, cũng là một trong những chủ đề chính của tài chính doanh nghiệp hiện đại. Giá trị doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ các tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu hiện tại của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể được xác định theo các cặp tiêu chuẩn giá trị chủ yếu sau: giá trị hoạt động và giá trị thanh lý; giá trị sổ sách và giá trị thị trường. Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận giá trị công ty dưới hình thức giá trị thị trường. Trong đó, giá trị thị trường được thể hiện thông qua giá cổ phiếu đang được giao dịch trên thị trường tại một thời điểm nào đó của doanh nghiệp. Để đo lường biến số giá trị thị trường của công ty, đã có nhiều phương pháp khác nhau 12 được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến TobinQ (Q) đại diện cho giá trị của công ty. Ở phần sau của nghiên cứu, tác giả sẽ trình bày rõ hơn cách tính biến giá trị công ty này.