Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan: chương này tác giả trình bày các nghiên cứu liên quan trước đây đã nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại Việt Nam và quốc tế. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: chương này trình bày các lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và quản trị công ty. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: chương này tác giả phát triển các giả thuyết nghiên cứu trong bài, đưa ra mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty với hành vi điều chỉnh lợi nhuận và trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: chương này trình bày kết quả hồi quy qua 2 giai đoạn và thảo luận về mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Chương 5: Kết Luận – Kiến nghị: Chương này tác giả trình bày kết luận của bài nghiên cứu, hạn chế bài nghiên cứu và đề xuất định hướng nghiên cứu trong tương lai. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Các nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu “Boad monitoring and Earnings managerment: Do outside directors influence abnormal accruals?” của Peasnell & các cộng sự (2000) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 1271 quan sát các công ty Anh giai đoạn 1993 – 1995. Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và sự hiện diện của một Ủy ban kiểm toán sẽ hỗ trợ vai trò giám sát của Hội đồng quản trị. Nghiên cứu cũng tìm thấy các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD càng tăng thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Corporate governance and Earnings managerment” của Chtourou & các cộng sự (2001) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều đỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 3947 công ty Mỹ trên Compustat năm 1996. Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ thành viên Ủy ban kiểm toán là thành viên độc lập không điều hành và không phải là quản lý của các công ty khác cũng như mức bồi thường bằng quyền chọn mua cổ phiếu và chuyên môn của Ủy ban kiểm toán thì ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu cũng cho thấy tăng tỷ lệ các thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành và tách vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc thì không ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Nghiên cứu “Earnings managerment and Corporate governance: The roles of the board and the audit commmitee” của Xie & các cộng sự (2003) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 282 quan sát các công ty Mỹ trong năm 1992, 1994 và 1996. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một quy mô Hội đồng quản trị lớn, 5 một Ủy ban kiểm toán có chuyên môn về tài chính và tăng tần số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu không có đủ bằng chứng để kết luận tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị và tỷ lệ các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài có liên quan tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Board composition and earnings management in Canada” Park & Shin (2004) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 539 quan sát các công ty Canada giai đoạn 1991-1997.
Thứ nhất, nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của thành viên Hội đồng quản trị đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Thứ hai, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận, kết quả này trái ngược với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài sẽ giúp Hội đồng quản trị tăng tính độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn. Lý giải cho kết quả này, Park & Shin lập luận rằng các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài ở các công ty Canada thiếu sự tinh tế trong lĩnh vực tài chính hay thiếu sự truy cập thông tin để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, thêm vào đó có thể các thành viên bên ngoài thiếu quan tâm đến hoạt động công ty vì họ thiếu quyền sở hữu, hoặc là do họ thiếu sự độc lập thực sự và thiếu quyền lực để thực hiện việc giám sát. Nghiên cứu “Board, audit committee, culture and earnings management: Malaysian evidence” của Rahman & Ali (2006) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều đỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 97 công ty niêm yết ở Malaysia giai đoạn 2002-2003.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng một Hội đồng quản trị với quy mô nhỏ sẽ phát huy vai trò giám sát hơn là một Hội đồng quản trị lớn. Kết quả này trái ngược với kết quả nghiên cứu của Xie & các cộng sự (2003). Nghiên cứu không có đủ bằng chứng để kết luận, việc tách vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành cũng tỷ lệ thành viên Ủy ban kiểm toán độc lập không điều hành có liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. 6 Nghiên cứu “Earnings Management And Corporate Governance In The UK: The Role Of The Board Of Directors And Audit Committee” của Lei (2006) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 344 công ty niêm yết ở Anh giai đoạn 2000-2002.
Nghiên cứu cho thấy việc tách vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài sẽ tác động làm giảm hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận. Còn việc tăng tần số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán sẽ tác động làm giảm hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận. Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên độc lập của Ủy ban kiểm toán cũng như chuyên môn về tài chính – kế toán – kiểm toán của các thành viên Ủy ban kiểm toán với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Good Corporate Governance And Earnings Management Practices: An Indonesian Cases” của Muhardi (2010) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 128 công ty Indonesia giai đoạn 2005-2007.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tách biệt vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc và tỷ lệ sở hữu của cổ đông kiểm soát lớn hơn 51% thì tác động làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành và tỷ lệ thành viên độc lập trong Ủy ban kiểm toán cũng như sự hiện diện của chuyên gia phân tích tài chính – sử dụng nợ với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Corporate Governance Characteristics and Earnings Management: Empirical Evidence from Chinese Listed Firms” của Gulzar & Wang (2011) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 1009 công ty Trung quốc trong giai đoạn 2002-2006. Kết quả nghiên cứu cho thầy rằng sự tách biệt vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên nữ trong Hội đồng quản trị và tăng tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị và tập trung sở hữu thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
7 Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Earnings Management and Board Characteristics in Thai Listed Companies” của Sukeecheep & các cộng sự (2013) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 550 công ty niêm yết ở Thái Lan trong giai đoạn 2006-2010. Thứ nhất, nghiên cứu tìm ra rằng tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị tham gia Hội đồng quản trị của các công ty khác thì làm làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD càng tăng thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Thứ hai, nghiên cứu tìm thấy thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành thì làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Park & Shin (2004), Sukeecheep & các cộng sự giải thích cho kết quả này là do thành viên Hội đồng quản trị độc lập tại các công ty niêm yết của Thái Lan thiếu sự độc lập thật sự và thiếu quyền lực để điều tra hành vi sai trái của Ban quản lý. Cuối cùng nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa sự tách biệt vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, quy mô Hội đồng quản trị và tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.2 Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết ở Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM” của Phạm Thị Bích Vân (2012) sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) - Modified Jones với một mẫu nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Và tác giả Phạm Thị Bích đề nghị một mô hình khác để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các doanh nghiệp Việt Nam.