Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963) Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963) chỉ ra rằng một đất nước chỉ có thể đạt cùng lúc hai trong ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hối đoái ổn định và tự do tài chính. Bộ ba bất khả thi – được minh họa trong hình 2.1; mỗi cạnh của tam giác – đại điện cho chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hối đoái ổn định và tự do tài chính – mô tả mong muốn mục tiêu tiềm năng, đối diện với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh tỷ giá thả nổi hoàn toàn và mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập thì đối ngược đỉnh liên minh tiền tệ (chính sách tiền tệ phụ thuộc).
Việc đạt được cả ba mục tiêu là hoàn toàn không khả thi.1: Tam giác bất khả thi 6 2.2 Các nghiên cứu về bộ ba bất khả thi của nhóm tác giả Joshua Aizenman, Menzie D. Chinn, Hiro Ito (2008,2010) Trên cơ sở kế thừa lý thuyết bộ ba bất khả thi, nhiều nhà kinh tế học đã và đang tiếp tục phát triển lý thuyết này để phát hiện ra các nhân tố có quan hệ mật thiết đến việc lựa chọn mẫu hình của bộ ba bất khả thi. Nổi bật trong xu hướng đó là chuỗi nghiên cứu của nhóm tác giả Joshua Aizenman, Menzie D. Chinn, Hiro Ito đã đưa ra các mặt tích cực của bộ ba bất khả thi, phác thảo những thang đo mới để đo lường mức độ của độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính; đồng thời nhóm tác giả đã xem xét việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi trong mối tương quan với dự trữ ngoại hối (DTNH) (như là một tỷ lệ so với GDP).
Aizenman, Chinn, và Ito (2008) đã chứng minh rằng những cuộc khủng hoảng lớn trong bốn thập niên vừa qua - sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, cuộc khủng hoảng nợ của Mexico năm 1982, cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – nguyên nhân là do sự đổ vỡ của cấu trúc tài chính. Các tác giả đã nhìn lại sự phát triển của cơ cấu chính sách liên quan đến bộ ba bất khả thi và nắm giữ DTNH. Vì vậy, trong suốt thập niên qua, các quốc gia đang phát triển đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi đã có xu hướng gia tăng mạnh mẽ DTNH cùng với xu hướng hội tụ về mức trung bình của bộ ba bất khả thi. Đồng thời cũng đã thử nghiệm mối quan hệ tuyến tính của các chỉ số bộ ba bất khả thi và đưa ra kết quả là tổng trọng của 3 yếu tố chính sách bộ ba bất khả thi là không đổi, sự tăng lên của một yếu tố là sự đánh đổi với sự giảm hiệu quả của hai yếu tố kia.
Nếu như lý thuyết nguyên thủy của bộ ba bất khả thi chưa có công cụ đo lường các chỉ số bộ ba bất khả thi thì trong bài nghiên cứu “Giả thuyết “Bộ ba bất khả thi” trong thời đại khủng hoảng toàn cầu: Sự đo lường và kiểm định” của nhóm tác giả Joshua Aizenman, Menzie D. Chinn, Hiro Ito (2008) đã khắc phục sự thiếu sót này bằng cách đưa ra các cách tính các yếu tố của bộ ba bất khả thi. Theo đó các chỉ số bộ ba bất khả thi được đo lường như sau: 7 Chỉ số độc lập tiền tệ (MI): được đo lường bằng sự tương quan hàng năm của lãi suất hàng tháng giữa một nước với nước cơ sở được đo lường bằng công thức: corr (ii , i j ) ( 1) MI 1 1 ( 1) Trong đó i là nước nghiên cứu, j là nước cơ sở, lãi suất sử dụng là lãi suất trên thị trường tiền tệ. Chỉ số MI có giá trị từ 0 tới 1, chỉ số này càng cao có nghĩa chính sách tiền tệ càng độc lập.
Chỉ số ổn định tỷ giá (ERS): được tính toán dựa trên độ lệch chuẩn hàng năm của tỷ giá hàng tháng giữa nước nghiên cứu và nước cơ sở, được đo lường như sau: 0.01 stdev( (log(exch _ rate)) Chỉ số ERS cũng biến thiên trong khoảng từ 0 đến 1, chỉ số này càng cao cho thấy sự ổn định tỷ giá hối đoái và ngược lại. Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN): Chinn và Ito (2008) đưa ra đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường mức độ hội nhập tài chính dựa trên thông tin báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (AREAER) phát hành. KAOPEN là thành phần được chuẩn hóa quan trọng đầu tiên trong các biến cho thấy sự tồn tại của cơ chế đa tỷ giá, những hạn chế các giao dịch tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và yêu cầu của việc bỏ nguồn thu xuất khẩu. Một quốc gia với chính sách đa tỷ giá cũng đồng nghĩa với việc đang thực hiện những chính sách kiểm soát vốn.
KAOPEN được đề xuất dựa trên độ mở tài khoản vốn trên pháp lý vì các thước đo độ mở tài khoản vốn trên pháp lý được dẫn dắt bởi động cơ xác định mục đích các chính sách của các quốc gia. KAOPEN cũng biến thiên trong khoảng 0 và 1. Chỉ số này càng cao cho thấy quốc gia mở cửa hơn với các giao dịch vốn xuyên quốc gia. 8 Để tóm tắt xu hướng của các nước, nhóm tác giả xây dựng một “sơ đồ hình thoi” hay còn gọi là mẫu hình kim cương, ở đó ngoài ba yếu tố của bộ ba bất khả thi là chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá hối đoái ổn định và hội nhập tài chính thì tác giả đã thêm vào yếu tố thước đo của quỹ dự trữ ngoại hối (IR/GDP); các thước đo này được biến thiên giữa 0 và 1.
Xu hướng lựa chọn bộ ba bất khả thi của các quốc gia từ năm 1971 – 2006 được thể hiện trong hình 2.2, cho thấy xu hướng của các nước như sau: Các nước công nghiệp hóa (IDC) với xu hướng hội nhập tài chính và ổn định tỷ giá tương ứng với sự sụt giảm nhiều trong chính sách độc lập tiền tệ. Riêng nhóm nước không sử dụng đồng Euro mặc dù cũng có cùng mức độ hội nhập tài chính, nhưng lại có một cơ chế tỷ giá tương đối linh hoạt hơn, đồng thời sự tự chủ về tiền tệ cũng nhiều hơn. Các nền kinh tế mới nổi (EMG) không ngừng hội nhập tài chính, linh hoạt hơn trong tỷ giá hối đoái và sụt giảm sự độc lập tiền tệ. Các nước đang phát triển nhưng không phải thị trường mới nổi (Non-EMG) cũng dần mở cửa tài chính, cố gắng để đạt được mức độ nhất định của sự ổn định tỷ giá trong khi vẫn duy trì mức độ độc lập tiền tệ.
Ngoài ra nhóm các nước mới nổi thì dễ dàng trong việc tăng dự trữ ngoại hối, đây là khoản đệm an toàn cho sự đánh đổi trong bộ ba bất khả thi; các quốc gia phát triển không phải thị trường mới nổi tăng dự trữ ngoại hối vừa phải hơn và các nước công nghiệp giữ tỷ lệ dự trữ thấp nhất. Chính vì điều này mà các nền kinh tế mới nổi đạt được sự kết hợp tương đối cân bằng giữa ba mục tiêu vĩ mô trong những năm 2000 mà không có một nhóm nước nào đạt được.2: Cấu hình bộ ba bất khả thi và dự trữ quốc tế theo thời gian. Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2008) Nhóm tác giả đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa các sự kiện kinh tế tài chính nổi bật với sự thay đổi trong cấu trúc bộ ba bất khả thi (hay còn gọi là điểm gãy cấu trúc). Sự kiện tài chính được xem xét như sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods năm 1973, khủng hoảng nợ ở Mexico năm 1982, và khủng hoảng Châu Á 1997-1998 (tham khảo phần phụ lục 1a), làn sóng toàn cầu hóa 1990 và sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001 (tham khảo phần phụ lục 1b).
Nhóm tác giả xem các năm 1973, 1982, 1990, 1997-1998 và năm 2001 trùng với thời gian diễn ra sự phá vỡ cấu trúc bộ ba bất khả thi và tiến hành kiểm định bằng nhau giữa giá trị trung bình của các nhóm mẫu con là các thời kỳ có chứa năm diễn ra sự phá vỡ đó. 10 Kết quả cho các biến khác nhau và cho các mẫu được thể hiện trong phụ lục 2 đã cho thấy rằng tất cả các năm ứng với các sự kiện trên đều gây ra sự thay đổi trong mẫu hình bộ ba bất khả thi, dù vậy sự thay đổi không giống nhau với từng nhóm nước; từ kết quả này cho thấy đối với các nước mới nổi (EMG), việc phá vỡ cấu trúc của chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá hối đoái ổn định được nhận thấy đã xảy ra tương ứng vào năm 2001 và 1982. Trong khi sự sụp làn sóng toàn cầu hóa năm 1990 là sự kiện quan trọng nhất đối với các nước Non-EMG liên quan đến chính sách tự do hóa tài chính quốc gia đó, cuộc khủng hoảng Châu Á là sự kiện quan trọng nhất của các nước EMG. Những nhà làm chính sách phải lựa chọn ưu tiên trong 3 chính sách này để đưa ra sự kết hợp tốt nhất hai trong ba chính sách của bộ ba bất khả thi.
Các quốc gia đứng trước sự đánh đổi trong việc lựa chọn ba chính sách này và tùy từng giai đoạn mà mức độ ưu tiên lựa chọn chính sách sẽ khác nhau. Việc kiểm định về tính khả thi của một mô hình bộ ba bất khả thi được các tác giả thực hiện bằng hàm hồi quy đơn giản nhất với giả định rằng tổng tỷ trọng của ba biến là một hằng số như sau: 1 = ajMIi,t + bjERSi,t + cjKAOPENi,t + εt Trong đó ngoài các thành phần εt là sai số do dự trữ ngoại hối. Nếu mức độ phù hợp của mô hình hồi quy cao thì nó sẽ cho thấy một mối tương quan tuyến tính là hoàn hảo đủ để giải thích cho sự đánh đổi về mặt tỷ trọng cho các chỉ số.