Chương 1: Giới thiệu về đề tài, tổng quan về ý tưởng và nội dung của bài nghiên cứu. Từ đó rút ra những vấn đề chính cần thảo luận. 5 Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho bài nghiên cứu. Trong chương này, tôi sẽ tổng hợp những điểm nổi bật từ những bài nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu cùng chủ đề về tiền mặt và quản trị tiền mặt.
Từ đó thấy được những khác biệt từ các góc nhìn khác nhau và hướng phát triển của bài nghiên cứu này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Tôi sẽ trình bày chi tiết các mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình, nguồn thu thập dữ liệu và phương pháp ước lượng của bài nghiên cứu này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Tôi sẽ trình bày kết quả ước lượng, phân tích các biến trong mô hình và thảo luận một số nhân tố tác động đến kết quả. Chương 5: Kết luận bài nghiên cứu. Tôi sẽ đưa ra những kết luận chính và hàm ý của bài nghiên cứu. Đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG II. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN MẶT VÀ DÒNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP Dòng tiền và tiền mặt là chủ đề được nhiều nhà kinh tế quan tâm và nghiên cứu trong nhiều năm qua. Có nhiều bài nghiên cứu về độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền của doanh nghiệp. Tôi nhận thấy có rất nhiều những nghiên cứu thực nghiệm về những nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp mà có thể tạo nền tảng cho nghiên cứu này để áp dụng ở thị trường Việt Nam.
Sau đây, tôi sẽ tóm tắt sơ bộ những nghiên cứu thực nghiệm để làm cơ sở cho bài nghiên cứu này. Những nghiên cứu lý thuyết về tiền mặt và dòng tiền: Đã có nhiều nghiên cứu để trả lời cho vấn đề: tại sao công ty nắm giữ tiền và mức độ nắm giữ là bao nhiêu thông qua việc sử dụng các lập luận trong lý thuyết đánh đổi của Myers (1977), lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984), lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986). Lý thuyết đánh đổi (The trade-off model): Quyết định nắm giữ tiền mặt sẽ tạo ra chi phí và lợi ích. Lý thuyết đánh đổi tranh luận rằng doanh nghiệp thiết lập mức tiền mặt tối ưu cần nắm giữ bằng cách tính chi phí biên và lợi ích biên của việc nắm giữ tiền mặt.
Có khá nhiều lợi ích quan trọng của việc nắm giữ tiền mặt. Đầu tiên, tiền mặt nắm giữ như một bộ đệm an toàn, giúp công ty tránh khỏi kiệt quệ tài chính khi công ty có những khoản lỗ bất ngờ hoặc gặp khó khăn khi huy động vốn từ bên ngoài. Thứ hai, việc thiếu hụt tiền khiến công ty buộc phải từ bỏ những dự án đầu tư tốt, do đó, tiền mặt nắm giữ giúp công ty có thể theo đuổi chính sách đầu tư tối ưu ngay cả khi công ty gặp khó khăn về tài chính. Cuối cùng, là tiền mặt nắm giữ góp phần tối thiểu hóa chi phí huy động vốn từ bên ngoài.
Tuy nhiên, việc nắm giữ tiền mặt cũng phải đối diện với chi phí liên quan. Đầu tiên là chi phí đại diện, chi phí này phụ thuộc vào việc các nhà quản lý có thực hiện 7 những dự án tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông hay không. Nếu họ không làm tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông, thì việc họ gia tăng nắm giữ tiền mặt để phụ thuộc cho lợi ích cá nhân của họ sẽ làm gia tăng chi phí đại diện. Thứ hai là chi phí cơ hội, chính là lãi suất công ty đã từ bỏ để nắm giữ tiền.
Lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory): Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984) tranh luận về việc xác định lượng tiền mặt tối ưu cần nắm giữ. Tiền như một bộ đệm cho việc cân nhắc lựa chọn giữa lợi nhuận giữ lại và quyết định đầu tư của công ty. Theo lý thuyết này, công ty dùng tiền mặt để cân bằng giữa lợi nhuận giữ lại và cơ hội đầu tư của mình. Để tối thiểu hóa chi phí đại diện, công ty sẽ ưu tiên dùng quỹ nội bộ để tài trợ cho dự án đầu tư, tiếp theo là nợ và cuối cùng là cổ phần vì việc phát hành cổ phần mới là rất tốn kém vì tồn tại bất cân xứng thông tin.
Vì thế, khi công ty có dòng tiền hoạt động dồi dào, công ty sẽ sử dụng để tài trợ cho những dự án mới, trả nợ, chi trả cổ tức và cuối cùng là để tích lũy. Khi lợi nhuận giữ lại không đủ để tài trợ cho những dự án mới, công ty sẽ sử dụng lượng tiền mặt nắm giữ, và sau đó sẽ phát hành nợ mới nếu cần thiết. Lý thuyết dòng tiền tự do (The free cashflow theory): Nghiên cứu của Jensen (1986) đã giải thích việc tại sao các nhà quản lý có động cơ tích trữ tiền mặt. Khi công ty có dòng tiền tự do lớn hơn, các nhà quản lý có xu hướng sử dụng nó cho mục đích cá nhân hơn, do đó, mâu thuẫn quyền lợi giữa các nhà quản lý và các cổ đông sẽ phát sinh.
Các nhà quản lý luôn muốn sẵn có tiền để đầu tư, do đó, họ nắm giữ tiền mặt để có thể thực hiên các hoạt động đầu tư mà không cần sự cho phép của cổ đông. Nhờ có lượng tiền mặt dồi dào, các nhà quản lý sẽ sẵn sang đầu tư cho những dự án mở rộng, tăng trưởng, thậm chí đó là dự án tồi, vì vậy, việc gia tăng nắm giữ dòng tiền tự do giúp các nhà quản lý không phải thực hiện huy động vốn từ bên ngoài, và đầu tư vào những dự án có lợi cho bản 8 thân. Cuối cùng, các nhà quản lý tích trữ tiền mặt vì họ không muốn chi trả cho cổ đông, điều này sẽ làm giảm nguồn lực của họ, và làm giảm đi “quyền lực” của họ, khiến họ phải chịu sự giám sát của thị trường khi công ty cần huy động vốn từ bên ngoài. Các dự án được tài trợ nội bộ sẽ tránh được việc giám sát này, và có thể dẫn đến chi phí rất cao.
Nghiên cứu thực nghiệm về tiền mặt và dòng tiền: Nghiên cứu của Tim Opler, Lee Pinkowitz, René Stulz và Rohan Williamson (1999): Trong nghiên cứu này, Opler và cộng sự đã thu thập dữ liệu trong giai đoạn 1971 – 1994 từ 1048 công ty đại chúng ở Mỹ để tìm ra các nhân tố tác động đến việc nắm giữ tiền của các công ty và thay đổi trong việc nắm giữ tiền mặt qua thời gian. Thông qua các kiểm định chuỗi thời gian và hồi quy chéo, tác giả nhận thấy các công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng, công ty có dòng tiền thường xuyên biến động và các công ty nhỏ sẽ có tỷ lệ nắm giữ tiền cao hơn các công ty khác. Công ty có khả năng tiếp cận với thị trường vốn dễ hơn, chẳng hạn như công ty lớn và công ty có chỉ số xếp hạng tín dụng cao sẽ nắm giữ tiền mặt ít hơn. Kết quả phân tích của tác giả cũng cho thấy công ty sẽ chi nhiều hơn cho đầu tư, hoặc chi cho các hoạt động mua lại hoặc chi trả cổ tức cho cổ đông nếu có dòng tiền dư thừa.
Đồng thời, tác giả cũng cho thấy công ty có xu hướng tích lũy nhiều tiền hơn so với dự đoán của mô hình cân bằng tĩnh – khi người quản lý tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông. Và cuối cùng, lý do chính mà các công ty chịu sự thay đổi lớn trong khoản tiền dôi ra là do các khoản lỗ hoạt động. Kết quả này của tác giả phù hợp với quan điểm: công ty nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo cho việc đầu tư khi mà dòng tiền hoạt động là quá thấp, và khi chi phí huy động vốn là quá cao. Nghiên cứu của Heitor Almeida, Murillo Campello, và Michael S.
Weisbach (2004): 9 Nghiên cứu của Almeida và cộng sự (2004) đã xây dựng mô hình để kiểm tra độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền và mở rộng ra là độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền sẽ bị ảnh hưởng như thế nào bởi giới hạn tài chính. Tác giả cho rằng mối liên hệ giữa hạn chế về tài chính và nhu cầu thanh khoản của công ty giúp tác giả xác định giới hạn về tài chính là một trong các yếu tố quan trong quyết định hành vi của công ty. Nắm giữ tiền mặt thì tốn kém vì có thể nó sẽ đòi hỏi cắt giảm các khoản đầu tư có giá trị trong hiện tại của công ty. Các công ty bị giới hạn về tài chính lựa chọn chính sách tài chính tối ưu là cân bằng khoản lợi nhuận trong hiện tại với các khoản đầu tư trong tương lai.
Điều này trái ngược với những công ty không bị giới hạn về tài chính và có khả năng đầu tư vào tất cả các dự án có NPV dương. Almeida và cộng sự (2004) sử dụng mẫu là những công ty sản xuất từ năm 1971 – 2000, phân chia các công ty thành bị giới hạn về tài chính và không bị giới hạn về tài chính bằng cách sử dụng năm phương pháp tiếp cận thay thế đại diện cho những khó khăn tài chính mà các công ty phải đối mặt trong quá trình hoạt động của mình đó là: chính sách thanh toán của công ty, quy mô tài sản, xếp hạng trái phiếu, xếp hạng thương phiếu và chỉ số KZ (Kaplan và Zingales 1997). Sau khi kiểm định, Almeida và cộng sự đã nhận thấy rằng công ty bị giới hạn về tài chính sẽ nắm giữ nhiều tiền mặt hơn, trong khi công ty không bị giới hạn về tài chính thì không thể phân biệt rõ. Và trong 4 chỉ tiêu phân loại đầu tiên, độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền gần bằng 0 cho những công ty không bị giới hạn về tài chính, và dương đáng kể đối với những công ty bị giới hạn về tài chính.
Trong khi đó, chỉ số KZ thể hiện tương quan âm cho cả công ty bị giới hạn và không giới hạn về tài chính. Almeida và cộng sự (2004) cũng kiểm tra độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền liên quan đến chu kỳ kinh doanh của công ty.