Chương I Giới thiệu 4 Tổng quan các nội dung chính của luận văn và các vấn đề nghiên cứu. Lý do chọn đề tài Chương II Tổng quan các nghiên cứu trước đây Lý thuyết hiệu ứng đường cong J. Các nghiên cứu trước đây về hiệu ứng đường cong J Chương III Phương pháp nghiên cứu Mô hình nghiên cứu. Phương pháp kiểm định mô hình.
Chương IV Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương V Kết luận Khái quát các kết quả nghiên cứu chính. Nêu lên đề xuất trong công tác điều hành chính sách tỷ giá và cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam. Hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu mới. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Hiệu ứng đường cong J Theo hiệu ứng đường cong J khi xảy ra sự giảm giá trị đồng nội tệ của một quốc gia thì ban đầu cán cân thương mại của quốc gia đó sẽ giảm giá trị và tăng lên trong thời gian tiếp theo.
Nền tảng của lý thuyết này là “Điều kiện Marshall- Lerner”của hai nhà kinh tế Alfred Marshall và Abba Lerner, theo như điều kiện này để việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thanh toán thì giá trị tuyệt đối tổng hệ số co giãn theo giá của xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Việc giảm giá đồng nội tệ không làm cải thiện cán cân thương mại tức thời do nhiều nguyên nhân gây ra, theo Krugman, khi thay đổi tỷ giá hối đoái xảy ra hai hiệu ứng: - Hiệu ứng giá cả (the price effect): khi giảm giá đồng nội tệ, giá hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn tương đối khi tính bằng đồng ngoại tệ, và giá hàng nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ sẽ đắt hơn tương đối. - Hiệu ứng số lượng (the volume effect): khi giảm giá đồng nội tệ, giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn tương đối làm tăng nhu cầu của người nước ngoài với hàng hóa trong nước và ngược lại nhu cầu hàng hóa nước ngoài của dân chúng trong nước giảm, làm giảm số lượng hàng hóa nhập khẩu. Trên thực tế, do tính cứng nhắc của giá cả và tiền lương, số lượng hàng nhập khẩu và xuất khẩu có thể vẫn chưa thay đổi ngay trong ngắn hạn vì các hợp đồng xuất nhập khẩu đã được ký kết nhiều tháng trước đó theo mức tỷ giá cũ và không thể hủy bỏ được, các nhà xuất khẩu cũng chưa huy động đủ nguồn lực như con người, nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu,… để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, bên cạnh đó, thói quen tiêu dùng cũng không dễ thay đổi, dân chúng trong nước chưa sẵn sàng sử dụng hàng hóa thay thế.
Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng mà số lượng hàng nhập khẩu cũng chưa 6 giảm mạnh. Vì vậy, trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả chiếm ưu thế hơn hiệu ứng số lượng, làm cho cán cân thương mại lúc ban đầu sẽ bị thâm hụt. Trong dài hạn, những hợp đồng xuất khẩu mới đã được ký kết theo tỷ giá mới, các doanh nghiệp cũng huy động đủ nguồn lực để tăng số lượng sản xuất, bên cạnh đó, người dân chúng trong nước cũng đã bắt đầu thích nghi với hàng thay thế hàng nhập khẩu và lực chọn hàng hóa có giá thấp hơn. Do vậy lúc này, số lượng xuất khẩu sẽ tăng lên và số lượng nhập khẩu giảm xuống.
Như vậy, trong dài hạn, hiệu ứng số lượng chiếm ưu thế hơn hiệu ứng giá cả và cán cân thương mại bắt đầu được cải thiện.1 Mô tả độ trễ thời gian của đường cong chữ J theo Krugman (Nguồn: Krugman, Obstfeld and Melitz, 2010. International Economics_Theory and Policy. Page 448) Rose và Yellen (1989) đưa ra định nghĩa mở rộng về hiệu ứng đường cong J như sau: (1) Có hiệu ứng đổi dấu từ âm sang dương khi phân tích trạng thái ngắn hạn hoặc (2) có hiệu ứng dương khi phân tích dài hạn và đồng thời hệ số mô phỏng ngắn hạn âm có ý nghĩa hay hệ số ngắn hạn không có ý nghĩa.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về hiệu ứng đường cong J Trước đây, đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu khác nhau nhằm kiểm chứng hiệu ứng đường cong J. Có thể chia thành 2 nhóm nghiên cứu: 7 (1) Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu thương mại tổng hợp.
(2) Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu thương mại song phương.1 Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu thương mại tổng hợp Nghiên cứu đầu tiên về hiệu ứng này có thể nói đến trường hợp cán cân thương mại của Mỹ được Margee thực hiện năm 1973, nhằm giải thích cho hiện tượng cán cân thương mại của Mỹ sụt giảm khi chính phủ Mỹ quyết định phá giá đồng USD, Margee đã giải thích cho hiện tượng này trong bài viết “Currency contracts, pass through and devaluation”, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thống kê theo tháng cho khoảng thời gian 1969 – 1973. Ba trường hợp được đưa ra phân tích: (1) các hợp đồng ký trước khi phá giá tiền tệ; (2) các hợp đồng ký sau khi phá giá tiền tệ, giai đoạn xảy ra hiện tượng truyền dẫn; và (3) sự điều chỉnh số lượng. Theo như Margee: đầu tiên, những hợp đồng đã ký trước đóng vai trò chi phối cán cân tài khoản vãng lai. Theo thời gian, những hợp đồng ký sau khi phá giá bắt đầu chiếm ưu thế, trong khoảng thời gian ngắn xảy ra hiện tượng truyền dẫn này, cán cân thương mại có thể tăng lên, nhưng vẫn chưa thay đổi ngay tức khắc do hiệu ứng giá cả vẫn chiếm ưu thế hơn hiệu ứng số lượng.
Kết luận của tác giả là có thể có hay không có hiệu ứng đường cong J, nhưng trong dài hạn, sự phá giá tiền tệ có triển vọng tác động đến cán cân thương mại. Để bổ sung cho nghiên cứu của Margee, cũng vào năm 1973, Junz và Rhomberg thực hiện bài nghiên cứu “Price competitiveness in export trade among industrial”, sử dụng dữ liệu theo năm trong khoảng thời gian 1953 – 1969 của 13 quốc gia công nghiệp (Áo, Bỉ-Luxemburg, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh-Mỹ) và mô hình OLS. Kết luận rằng: thay đổi tỷ giá ảnh hưởng đến cán cân thương mại quốc gia cần một khoảng độ trễ 5 năm. Tác giả rút ra rằng sự phá giá cải thiện được cán cân thanh toán nhưng không cải thiện được cán cân thương mại, vì vậy không xác nhận đường cong chữ J.
Vào năm 1985, nghiên cứu “The effects of the devaluation on the trade balance: a critical view and reexamination of Miles’s” của Himarios được tiến hành cho 10 nước (Costa Rica, Ecuador, Phần Lan, Pháp, Iceland, Israel, Philippines, Tây Ban Nha, Sri Lanka và Anh). Bằng phương pháp sử dụng chuỗi thời gian theo dữ liệu năm từ 1956 – 1972 và hồi quy OLS tác giả thấy sự phá giá cải thiện được cán cân thương mại xảy ra ở 9 trên 10 trường hợp. Các nghiên cứu của Bahmani-Oskooee: Mohsen Bahmani-Oskooee là một Giáo sư thuộc khoa Kinh tế và Trung tâm nghiên cứu Kinh tế Quốc tế trường Đại học Wisconsin-Milwaukee, Hoa kỳ. Ông đã đóng góp rất nhiều nghiên cứu về đề tài hiệu ứng đường cong J.
Kể từ bài viết đầu tiên năm 1985, Bahmani-Oskooee đã kết hợp với các nhà kinh tế học khác tiến hành hàng chục nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng đường cong J ở các quốc gia khác nhau, cụ thể: Bahmani-Oskooee (1985, 1989a) nghiên cứu “Devaluation and the J- curve: some evidence from LCDs”, sử dụng dữ liệu thống kê theo quý trong khoảng thời gian 1973 – 1980 của 4 quốc gia: Hy Lạp, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, áp dụng mô hình chuỗi thời gian và cấu trúc độ trễ Almon. Tác giả tìm thấy bằng chứng hiệu ứng đường cong J ngược trong trường hợp Hy Lạp, Ấn Độ và Hàn Quốc. Và đặc biệt trong dài hạn chỉ có Thái Lan là có tác động. Năm 1992 Mohsen Bahmani-Oskooee cùng với Malixi thực hiện nghiên cứu “More evidence on the J-curve from LCDs”, tác giả sử dụng dữ liệu quý trong khoảng 1973 – 1985 của 13 quốc gia: Brazil, Cộng hòa Dominican, Ai Cập, Hy Lạp, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mexico, Pakistan, Peru, Phillipnes, Portugal, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ.
Mô hình được sử dụng ở nghiên cứu này là mô hình chuỗi thời gian và cấu trúc độ trễ Almon. Kết quả thực nghiệm là tìm thấy hiệu ứng đường cong J trong trường hợp Brazil, Hy Lạp, Hàn Quốc, Ấn Độ. Kết luận của tác giả: ảnh hưởng 9 trong ngắn hạn có thể có dạng chữ N, chữ M, chữ J, nhưng khi xét về dài hạn hiệu ứng đường cong J xảy ra ở hầu hết các trường hợp. Đến năm 1994 ông cùng Alse sử dụng dữ liệu theo quý trong khoảng thời gian 1971 – 1990 của 19 nước phát triển (DCs: Úc, Áo, Bỉ, Cananda, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Ý, Nhật, Netherlands, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ) và 22 nước ít phát triển (LDCs: Argentina, Brazil, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Ai cập, Ethiopia, Hy Lạp, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Pakistan, Phillipines, Portugal, Singapore, Nam Phi, Sri Lanca, Thái lan, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ) để thực hiện nghiên cứu “Short-run vesus long-run effects of devaluation: error correstion modeling and cointegration”.
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật đồng liên kết của Engle và Granger tìm thấy ảnh hưởng trong dài hạn của việc phá giá đến cán cân thương mại trong trường hợp Costa Rica, Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời có bằng chứng về hiệu ứng đường cong J trong trường hợp Costa Rica, Ireland, Netherlands và Thổ Nhĩ Kỳ. Một nghiên cứu có kết quả trong dài hạn phù hợp với nghiên cứu của Bahmani – Oskooee (1989a) là “The effectiveness of devaluation: A general equilibrium assessment with reference to Greece” do Brissimis và Leventankis thực hiện năm 1989 cho trường hợp Hy Lạp với dữ liệu quý từ 1975 – 1984 và kết quả là tìm thấy đường cong J cho trường hợp Hy Lạp. Năm 1988 có 2 nghiên cứu cho trường hợp Mỹ do Rosenweig và Koch (The US dollar and the Delayed J – curve) sử dụng dữ liệu theo tháng từ 1973 – 1986 theo phương pháp kiểm định nhân quả Granger, trong nghiên cứu này, tác giả đã giới thiệu khái niệm “Đường cong J chậm”. Nghiên cứu thứ hai là “Exchange rates, adjustment, and the J – curve”, trong đó Meade sử dụng dữ liệu theo quý từ 1968 – 1984 theo phương pháp mô hình Board Staff của tài khoản vãng lai Mỹ, tuy nhiên kết quả không xác nhận sự mô phỏng cũng như không có bằng chứng về “đường cong J chậm”.
Cũng trong năm này Flemingham thực hiện nghiên cứu “Where is the Australian J – curve?