Chương 1 này sẽ giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu từ lý do nghiên cứu đã đưa ra mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – mô hình nghiên cứu Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết về phong cách lãnh đạo: khái niệm, các cách tiếp cận phong cách lãnh đạo, đặc biệt là phong cách lãnh đạo tạo sự thay đổi, các yếu tố thuộc phong cách lãnh đạo tao sự thay đổi. Đồng thời giới thiệu về hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên: khái niệm, các cách tiếp cận hiệu quả làm việc nhóm, tiêu chí hiệu quả làm việc nhóm và thang đo hiệu quả làm việc nhóm. Chương này cũng đề cập các nghiên cứu ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo tạo sự thay đổi đến hiệu quả làm việc nhóm của nhân viên.
Dựa trên cơ sở đó, mô hình lý thuyết và các giả thuyết được đề xuất. Mô hình và thang đo nghiên cứu về những yếu tố thuộc phong cách lãnh đạo tạo sự thay đổi ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc nhóm được điều chỉnh thông qua kết quả nghiên cứu định tính trình bày trong chương 3. 7 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu gồm hai bước chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính thực hiện qua thảo luận nhóm với 10 người và khảo sát thử 10 người là nhân viên, trưởng nhóm của các công ty CNTT trên địa bàn TP.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bảng khảo sát được xây dựng từ nghiên cứu định tính. Chương này cũng đưa ra cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng và kế hoạch phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu như: thống kê mô tả, kết quả kiểm định các thang đo thông qua phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất thông qua phân tích hồi qui tuyến tính bội thông qua phần mềm SPSS 16. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đưa ra kiến nghị cũng như hàm ý quản trị đối với lãnh đạo các công ty CNTT trên địa bàn TP.HCM dựa trên kết quả nghiên cứu trình bày trong chương 4. Chương 5 gồm ba phần chính: (1) Tóm tắt các kết quả nghiên cứu (2) Một số kiến nghị và hàm ý quản trị đối với lãnh đạo các công ty CNTT trên địa bàn TP.HCM và (3) là hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về lãnh đạo, phong cách lãnh đạo, hiệu quả làm việc nhóm và ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến hiệu quả làm việc nhóm. Chương này cũng trình bày các nghiên cứu ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến hiệu quả làm việc nhóm của tác giả trước đây, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết.1 Phong cách lãnh đạo 2.1 Khái niệm về lãnh đạo Thuật ngữ “lãnh đạo” vẫn còn nhiều tranh luận và chưa thống nhất về khái niệm và ngữ nghĩa giữa các nhà nghiên cứu trên thế giới.
Nhiều nghiên cứu về lãnh đạo được thực hiện trong vài thập niên qua cho thấy thuật ngữ này được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Định nghĩa về lãnh đạo rất khác nhau tuỳ thuộc vào sự nhấn mạnh vào một số yếu tố như khả năng của nhà lãnh đạo, tố chất cá nhân, các quan hệ ảnh hưởng, định hướng nhận thức với định hướng tình cảm, định hướng cá nhân với định hướng nhóm và sự quan tâm cá nhân với sự quan tâm tập thể. Sau đây là một số định nghĩa về lãnh đạo: Burns (1978) cho rằng, khi con người huy động thể chế, chính trị, tâm lý và các tài nguyên khác nhằm đánh thức, động viên và thỏa mãn động cơ của những người theo sau. Theo House và cộng sự (1999) thì lãnh đạo là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, làm cho mọi người góp phần vào hiệu quả và thành công của tổ chức họ đang làm thành viên.
Yukl (2002) lại cho rằng, lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả, quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra. 9 Lãnh đạo là quá trình đưa ra mục tiêu để đạt tới thông qua nỗ lực của tập thể (Đặng Ngọc Sự, 2011). Sở dĩ các định nghĩa khác nhau là do họ chủ yếu mô tả các bản năng tự nhiên hay là họ nhấn mạnh về phong cách hành vi. Tựu trung lại, có thể hiểu rằng, lãnh đạo là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các hoạt động của nhóm để đạt tới những mục tiêu chung.
Nói khác đi, lãnh đạo là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh hưởng, thúc đẩy, làm cho mọi người góp phần vào hiệu quả và thành công của tổ chức họ đang làm thành viên.2 Khái niệm về phong cách lãnh đạo Phong cách được coi là một yếu tố quan trọng trong quản lý, phong cách không chỉ thể hiện tính khoa học và tổ chức quản lý mà còn thể hiện tài năng và chí hướng của con người, nghệ thuật chỉ huy của người lãnh đạo. Có nhiều khái niệm khác nhau về phong cách lãnh đạo. Theo Nguyễn Hữu Lam (2007), phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi người đó thể hiện khi thực hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác theo nhận thức của đối tượng. Phong cách lãnh đạo được cho là “những mô hình hoặc cách mà người lãnh đạo thường sử dụng để gây ảnh hưởng đến người cấp dưới trong quá trình thúc đẩy họ thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức” (Trần Thị Thu Trang, 2006) Trong quá trình lãnh đạo tập thể khác nhau, kết quả công việc phần lớn phụ thuộc vào phương thức, phương pháp để lãnh đạo đúng đắn.
Nghệ thuật lãnh đạo thể hiện ở người biết lựa chọn cho mình phương thức, phương pháp tối ưu. Phong cách lãnh đạo góp phần thực hiện hợp lý và có hiệu quả các mục tiêu và nhệm vụ đã đề ra, ngược lại thực hiện chậm trễ các mục tiêu và nhiệm vụ đó.3 Các cách tiếp cận phong cách lãnh đạo Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về phong cách lãnh đạo. Theo Trần Thị Kim Dung và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) đã phân loại 5 cách tiếp cận về phong cách lãnh đạo 10 2.4 Phẩm chất lãnh đạo Cách tiếp cận này chú trọng vào việc xác định những phẩm chất của một người lãnh đạo hiệu quả. Nguyễn Hữu Lam (2007) cho rằng nghiên cứu về phẩm chất là những nghiên cứu sớm nhất về lãnh đạo.
Phẩm chất của người lãnh đạo hiệu quả được Stogdill hai lần tổng hợp. Năm 1948, Ông tổng hợp các nghiên cứu trong giai đoạn 1904-1948 và rút ra những phẩm chất của người lãnh đạo gồm: thông minh; hiểu biết nhu cầu của người khác; hiểu biết nhiệm vụ; chủ động và kiên trì trong việc giải quyết các vấn đề; tự tin; mong muốn có trách nhiệm; mong muốn nắm giữ vị trí thống trị và kiểm soát. Năm 1974, Ông tổng hợp các nghiên cứu trong giai đoạn 1949-1970. Nhiều phẩm chất và kỹ năng mới đã được bổ sung cho lần tổng hợp thứ nhất.
Về phẩm chất, người lãnh đạo cần có: khả năng thích ứng, am hiểu môi trường xã hội, tham vọng và định hướng thành tựu, quyết đoán, có tinh thần hợp tác, kiên quyết, đáng tin cậy, thống trị, xông xáo, kiên trì, tự tin, chịu được sự căng thẳng, sẵn lòng nhận trách nhiệm. Về kỹ năng, người lãnh đạo cần có: sự tài giỏi, thông minh; nhận thức; sáng tạo; ngoại giao, lịch thiệp; diễn đạt thông tin; có khả năng hiểu biết nhiệm vụ của nhóm; kỹ năng tổ chức; kỹ năng thuyết phục; kỹ năng xã hội. Theo Trần Thị Kim Dung (2007), các nghiên cứu của Digman, Goodstein và Lanyon quan tâm đến mô hình 5 nhóm phẩm chất lãnh đạo lớn (Big five model): (i) Nhiệt huyết, thể hiện: Có sức lực, có tính quyết đoán, hướng ngoại; (ii) Tận tâm, thể hiện: Có tính tin cậy, tính phối hợp, có nhu cầu thành tựu; (iii) Tính dễ chịu, thể hiện: tính lạc quan, giúp đỡ, yêu mến; (iv) Tính linh hoạt điều chỉnh, thể hiện: có tâm lý ổn định, tự trọng; (v) Thông minh, thể hiện: tính ham hiểu biết, phóng khoáng, có định hướng học tập.5 Phong cách lãnh đạo dựa trên hành vi Stogdill (1974) tổng kết các nghiên cứu về vai trò của lãnh đạo đi đến kết luận rằng thành công của lãnh đạo phụ thuộc nhiều vào hành vi (phong cách) của nhà lãnh đạo. Các nghiên cứu phong cách lãnh đạo dựa trên hành vi tiêu biểu là các nghiên cứu của đại học Michigan và đại học Ohio.
11 Các nghiên cứu của đại học Michigan (đại diện là Kahn và Katz, 1960) đưa ra kết quả với 2 nhóm hành vi của nhà lãnh đạo gồm: lãnh đạo có định hướng nhân viên (people - oriented) và lãnh đạo định hướng nhiệm vụ (Task-oriented). Hành vi định hướng nhân viên thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo đến cấp dưới, giúp đỡ cấp dưới phát triển, chia sẻ thông tin cho cấp dưới, ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của cấp dưới. Hành vi định hướng nhiệm vụ chú trọng vào kết quả và khía cạnh kỹ thuật trong công việc. Các nghiên cứu của đại học Ohio (đại diện là Stodgill và Coons, 1951) cho thấy phong cách (hành vi) của nhà lãnh đạo là rất khác nhau, song có thể gom lại thành 2 nhóm tương đối độc lập với nhau là phong cách lãnh đạo ân cần (Consideration) và phong cách lãnh đạo thiên về nhiệm vụ (Task-oriented).
Phong cách lãnh đạo ân cần biểu hiện qua sự thân thiết với nhân viên, phát triển quan hệ tin tưởng và kính trọng giữa hai bên. Phong cách lãnh đạo thiên về nhiệm vụ thể hiện: việc xác định các công việc cần hoàn thành, những mong đợi về kết quả và mối quan hệ giữa các nhân viên.6 Quyền lực và sự ảnh hưởng của lãnh đạo Đây là cách tiếp cận xuất hiện trong các nghiên cứu từ cuối thập niên 1950.