phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2 chương 7 tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ LỐI SỐNG CỦA NGƢỜI VIỆT NAM 1. Những tƣ tƣởng cơ bản của Phật giáo Toàn bộ nội dung tư tưởng của Phật giáo được thể hiện Tam Tạng kinh (Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng). Kinh sách Phật giáo được viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Pali (ngôn ngữ bình dân, giản dị), tiếng Phạn (ngôn ngữ trí thức, mẹo luật chặt chẽ tế nhị).
Cùng với sự biến đổi của lịch sử xã hội, Phật giáo cũng có nhiều biến đổi về tổ chức cũng như giáo lý. Nhiều hệ phái tồn tại cho đến ngày nay là biểu hiện của sự biến đổi đó. Mặc dù vậy, những nội dung, tư tưởng chủ yếu, những triết lý về thế giới quan, về nhân sinh cùng con đường giải thoát khỏi bể khổ của Phật giáo vẫn là cái chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình biến đổi của Phật giáo. Những tư tưởng đó ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống của con người Việt Nam 1.
Thế giới quan Phật giáo Thế giới quan là “tổng hợp tất cả những quan niệm, chính kiến về thế giới, về cấu trúc và nguồn gốc của nó, ý ngh a và giá trị đời sống của con người, lòng tin của con người trong hiện thực” [43,tr. Từ điển Triết học định nghĩa: “Thế giới quan được hiểu là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động và quan hệ của từng cá nhân, của một tập đoàn ã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại” [77,tr.539] Như vậy, có thể hiểu thế giới quan là hệ thống quan điểm, quan niệm, tư tưởng của con người về thế giới, về cuộc đời và vị trí của con người trong thế giới đó. Thế giới quan tôn giáo là hệ thống quan điểm, tư tưởng tôn giáo, thể hiện niềm tin của con người vào sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên, được 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biểu hiện tập trung trong các kinh sách của các tôn giáo, được các chức sắc tôn giáo truyền bá một cách tự giác. Thế giới quan Phật giáo được thể hiện tập trung trong quan điểm về thế giới, tư tưởng vô thường, thuyết nhân quả và thuyết duyên khởi.
Những tư tưởng này chứa đựng yếu tố duy vật và biện chứng, nó đối lập với định mệnh luận và thần linh luận. - Quan niệm của Phật giáo về thế giới Theo GS.TS Nguyễn Hùng Hậu trong cuốn “Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam - Tập 1: Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV”: Phật giáo thừa nhận thế giới về đại thể có hai yếu tố cơ bản là Danh và Sắc. Khái niệm danh và sắc có từ thời Upanishad để chỉ hiện tượng và cá thể nhưng đến thời đức Phật nó ngụ ý là yếu tố tinh thần và yếu tố vật chất, nó chính là vật và tâm. Theo thuyết “Chư pháp nhân duyên sinh” thì hai cái đó liên hệ khăng khít với nhau, không tách rời nhau, không có cái này thì không có cái kia và ngược lại.
Phật giáo quan niệm: “Nhất thiết duy tâm tạo” tức là mọi sự vật hiện tượng từ “tâm” mà sinh ra. Tâm là “sắc biên tế tướng” là cái ở giữa cái có và cái không (vô cùng nhỏ bé) rất vi tế huyền diệu và vô thủy vô chung. Tâm có tên là “Như Lai tạng tính”, “giáo diệu minh tâm”… và “Phật tính”. Cái gọi là thế giới chẳng qua là thành lập trên quan hệ nhận thức giữa sáu căn và sáu cảnh, ngoài ra thế giới đối với chúng ta không có một ý nghĩa nào khác vì không có chủ quan thì cũng không có khách quan, mà không có khách quan thì cũng không có chủ quan.
Ngoài quan hệ chủ quan – khách quan ra cũng không có thế giới, cái gọi là hết thảy cũng được thành lập trên quan hệ ấy. Như vậy, theo tinh thần Phật giáo trong hai yếu tố vật và tâm thì tâm đóng vai trò chủ đạo trong việc thành lập thế giới. Tất cả thế giới chỉ là một dòng biến hóa vô thường, vô định, không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật mà chỉ do nhân quả nối tiếp nhau mà thành. Trên thế giới không có sự vật nào tồn tại độc lập 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuyệt đối, mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong mối quan hệ phức tạp, tất cả mọi cái đều phải nương tựa vào nhau.
Trong giáo lý của đạo Phật thì không gian là vô tận, thế giới nhiều như cát sông Hằng. Không gian có Tam thiên thế giới gồm: Đại thiên thế giới, trung thiên thế giới và tiểu thiên thế giới. Mỗi tiểu thiên thế giới có hàng chục ngàn thế giới. Thời gian có “tam kiếp” gồm: đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp.
Một đại kiếp bằng 4 trung kiếp. Một trung kiếp bằng 20 tiểu kiếp. Một tiểu kiếp bằng hàng chục triệu năm. Thế giới trong không gian được gọi là thế gian.
Thế giới được chia thành 3 cõi lớn (Tam giới) là Dục giới (nơi lòng dục thịnh); Sắc giới (dục tuy không thịnh nhưng chưa hoàn toàn thoát ly khỏi sự trói buộc của vật chất); Vô sắc giới (hoàn toàn thoát ly khỏi sự trói buộc của vật chất, chỉ có tinh thần). Theo Kimura Taiken, Tam giới của nhà Phật được sinh ra từ trạng thái tinh thần trong giai đoạn thiền định. “Dục giới lấy núi Tu Di làm trung tâm. Xung quanh núi Tu Di là cửu sơn (Trì song, Trì dục, Diêm mộc, Thiên kiến, Mã nhĩ, Tượng nhĩ, Trì sơn, Thiết luân), Bát hải.
Giữa Trì song và Thiết luân có 4 châu: Nam là Diêm phù đề châu, Đông là Đông thắng thần châu, Bắc là Bắc câu lư châu, Tây là Tây ngưu hóa châu. Chúng ta đang ở châu Diêm phù đề. Trên núi Tu Di có thần Dạ Xoa, Tứ Thiên vương, Kim cương Thủ và Trời Đạo Lợi, tầng thứ 33 có chủ nhân là Đế Thích. Phật giáo còn có quan niệm Lục đại bao gồm: Địa ngục: có 8 đại địa ngục ở nơi tận cùng thế giới hay dưới Diêm phù đề châu; Ngạ quỷ: kể cả Diêm Ma, quỷ thần, Dạ xoa; Súc sinh; Atula (dưới đáy biển); nhân gian (có 4 châu nói trên); Thiên (Trời).
- Thuyết duyên khởi Thích Thiện Châu trong tác phẩm “Phật tử” cho rằng: Cốt tủy của đạo Phật là đạo lý duyên khởi. Đạo lý này nói rõ tương quan, tương duyên của tất 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cả các hiện tượng vật lý và tâm lý. Sự hiện hữu của thế giới chỉ là tương quan đồng thời của nhận thức chủ quan và đối tượng khách quan. Sự vật ở ngoài ta và trong ta vốn sinh, diệt biến chuyển theo luật nhân quả mà không hề tiêu diệt hoàn toàn, ấy là tương quan khác thời.
Trong cuốn “Triết học Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh có viết: Theo Phan Văn Hùm trong cuốn “Phật giáo triết học” cho rằng Thuyết duyên khởi trong Phật giáo gồm có nhiều thuyết: “Thuyết thứ 1 là Nghiệp cảm duyên khởi. Thuyết thứ 2 là Alaida duyên khởi. Thuyết thứ 3 là Chân như duyên khởi. Thuyết thứ 4 là Pháp giới duyên khởi.
Thuyết thứ 5 năm là Lục đại duyên khởi.13] + Nghiệp cảm duyên khởi: “Đây là học thuyết có từ thế giới Phật giáo nguyên thủy, rút ra từ Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên” [26,tr. Trong quá trình luân hồi sinh tử, định luật và trật tự vận hành tạo nên vòng tròn sinh hoá là luật nhân quả. Yếu tố chính của diễn trình nhân quả là lý thuyết về nghiệp cảm. Nghiệp cảm là cái năng lực tâm lý tiềm tàng, vẫn tồn tại khi thân xác bị chết đi.
Nghiệp gồm có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Biệt nghiệp tạo nên cá thể và cộng nghiệp tạo nên thế giới. Còn nghiệp là còn hiện tượng giới: “Sự hành vi của chúng ta hàng ngày, sinh ra tam nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) – Tam nghiệp cứ lớp trước tàn lớp sau nối, liên liên như những khoen dây xích. Thân tâm ta bởi đó mà tiếp dẫn với chủ quan giới và khách quan giới.
Ấy gọi là Nghiệp cảm duyên khởi. Cho nên, dứt trừ được nghiệp là trở về với Chân như, Niết bàn, muốn giải thoát phải diệt nghiệp. + Alaida duyên khởi: Theo phái Duy Thức, thức được chia thành 8 nhóm: tiền ngũ thức, ý thức, Manas (Mạt la thức) và Alaya (A lại da thức). Thức thứ bảy – Manas là trung tâm hiện khởi của các ý tưởng vị ngã, ích kỹ, tự ái, ảo tưởng, là trung tâm chấp ngã, ngã hoá.
Trong khi đó, A lại da thức là 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trung tâm tích tụ ý thể (nghĩa là thức), là nơi chứa nhóm các hạt giống (chủng tử) của tất cả mọi hiện khởi và chúng được bộc lộ trong các hiện khởi đó. Theo Duy thức tông, nguyên khởi của vạn pháp là hiệu quả của ý thể. Tàng thức là trung tâm tích tụ của ý thể, là kho chứa hạt giống của mọi hiện hữu. Khi chúng tiềm ẩn, ta gọi là chủng tử; khi chúng hoạt động ta gọi là hiện hành.
Những chủng tử cố hữu, những hiện hành và những chủng tử mới hỗ tương phụ thuộc lẫn nhau tạo nên một vòng tròn mãi mãi tái diễn tiến trình trước sau như nhất. Cái làm cho chủng tử phát khởi thành hiện hành, nghĩa la động lực tạo ra dòng vận động của duyên khởi chính là ý thể - nghĩa là thức. Đấy gọi là Alaida duyên khởi. Theo thuyết Alaida duyên khởi Nghiệp, Khổ khởi nguyên từ nghiệp thức hay ý thể.
+ Ch n như uyên khởi: Thuyết này theo kinh Lăng già, kinh Đại bát Niết Bàn, kinh Đại thừa khởi tín luận thuộc thời kỳ Đại thừa (khoảng đầu công nguyên). Chân như là từ ngữ được dùng để diễn tả thực tại cứu cánh vượt ngoài định danh và định nghĩa. Chân như trong nghĩa tĩnh thì phi không gian, phi thời gian, bình đẳng, vô thuỷ, vô chung, vô tướng vô sắc. Chân như trong nghĩa động có thể xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào.
Khi được điều động bởi một nguyên nhân thuần tịnh, nó mang hình thức thanh thoát; khi được điều động bởi một nguyên nhân ô nhiễm, nó mang hình thức hủ bại. Do vậy, chân như có hai trạng thái: mặt tĩnh là tự thân chân như và mặt động là những biểu lộ của chân như trong vòng sống chết. + Lục đại duyên khởi. Đây là chủ trương của Chân ngôn hay Mật tông.
Lục đại gồm địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. “Địa, thủy, hỏa, phong, không” thuộc về vật thể tức là sắc pháp còn “thức” thì thuộc về tâm tức là tâm pháp.