Chương 1: Tổng quan. Trình bày tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu: lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết & Mô hình nghiên cứu. Nội dung này gồm 2 phần: - Cơ sở lý thuyết và tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Trình bày quy trình, các bước tiến hành khi thực hiện nghiên cứu để đạt được mục tiêu nghiên cứu. 5 Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu; kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo của các khái niệm trong mô hình nghiên cứu; và kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Đưa ra một số hàm ý mang tính chất định hướng cho các nhà quản trị Marketing trong việc nâng cao giá trị thương hiệu đối với các sản phẩm, dịch vụ đang kinh doanh tại TP. Bên cạnh đó, trình bày ý nghĩa, hạn chế của nghiên cứu, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Thƣơng hiệu và giá trị thƣơng hiệu: 2. Thương hiệu: “Thương hiệu là khái niệm được thảo luận trong suốt nhiều thế kỉ gần đây với những ý nghĩa nhằm mang lại sự khác biệt giữa các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Sự thật rằng, thương hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ Brandr, theo tiếng Aixơlen cổ nghĩa là đóng dấu, xuất phát từ thời xa xưa, khi những chủ trang trại chăn nuôi muốn đánh dấu đàn cừu của mình để phân biệt với những đàn cừu khác, họ dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên lưng từng con một, thông qua đó khẳng định hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa của mình” (Keller, 2013, tr.
Cho đến nay khái niệm này đã trở nên phổ biến với ý nghĩa bao quát hơn và đã được đề cập rất nhiều trong các nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng. Vậy thương hiệu là gì khác biệt như thế nào với nhãn hiệu sản phẩm. Sản phẩm là bất cứ thứ gì cung cấp ngoài thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, được mua, sử dụng hoặc tiêu thụ nhằm thõa mãn nhu cầu hay mong muốn nào đó (Keller, 2013, tr. Bên cạnh đó, khái niệm về thương hiệu cũng có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau, cụ thể chúng ta có thể chia thành hai quan điểm chính: quan điểm truyền thống và quan điểm tổng hợp.
Quan điểm truyền thống cho rằng: - Theo Al Ries (2004): Thương hiệu là một ý hoặc khái niệm duy nhất trong đầu khách hàng khi nghe đến tên một doanh nghiệp nào đó. - Theo Aaker (1991): Thương hiệu là một tên được phân biệt và (hay) biểu tượng như logo, nhãn hiệu thương mại (Trade mark) hay kiểu dáng bao bì với mục đích xác định hàng hóa dịch vụ, hoặc của một nhà cung cấp, hay một nhóm nhà cung cấp và để phân biệt các sản phẩm, dịch vụ này với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cạnh tranh. 7 - Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích nhận dạng sản phẩm, dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu khác của đối thủ cạnh tranh. Với quan điểm này, thương hiệu được xem là một thành phần của sản phẩm và chức năng chủ yếu của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với các sản phẩm khác trong một tập cạnh tranh.
Quan điểm tổng hợp về thương hiệu lại cho rằng: - Thương hiệu không chỉ là một cái tên hay biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều (Davis, 2002). - Ambler & Styles (1996) cho rằng thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ yêu cầu. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là một thành phần của thương hiệu.
- Levitt (1981) cho rằng: Thương hiệu bao giờ cũng là sự kết hợp giữa các thuộc tính hữu hình và vô hình. - Theo Keller (2013), thương hiệu rộng hơn sản phẩm bởi vì nó bao gồm những thành phần tạo nên sự khác biệt giữa nó với những sản phẩm tương tự khác. Quan điểm tổng hợp cho rằng sản phẩm là thành phần của thương hiệu ngày càng được chấp nhận trong thực tiễn, cũng như trong khoa học kinh tế. Lý do là người tiêu dùng có hai nhu cầu: (1) nhu cầu về chức năng (functional needs) và (2) nhu cầu về tâm lý (psychological needs).
Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng, còn thương hiệu mới có thể cung cấp cho con người cả lợi ích chức năng và lợi ích về mặt tâm lý (Hankinson & Cowking, 1996). Minh họa hai quan điểm về thương hiệu. Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2007), Nghiên cứu khoa học marketing - Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính, NXB ĐHQG TPHCM, trang 9. Stephen King của tập đoàn WPP cho rằng: “Sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua.
Sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của doanh nghiệp. Sản phẩm có thể nhanh chóng lạc hậu, nhưng thương hiệu nếu thành công sẽ không bao giờ lạc hậu”. Qua nhiều khái niệm khác nhau cho chúng ta thấy rằng quan điểm về thương hiệu và nhãn hiệu hay sản phẩm vẫn còn sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, chưa có sự thống nhất nhưng có sự khác biệt rõ ràng giữa hai khái niệm này. “Tuy nhiên qua các định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm về thương hiệu nên được hiểu rộng hơn, thương hiệu bao gồm tất cả những gì mà khách hàng và cộng đồng thật sự cảm nhận về doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ được cung cấp bởi doanh nghiệp, còn nhãn hiệu chỉ là những gì mà doanh nghiệp muốn truyền đạt đến đối tác của mình.
Nói cách khác, thương hiệu là một khái niệm xuyên suốt cả quá trình từ thông điệp được truyền đi bởi doanh nghiệp đến thông điệp mà khách hàng cảm nhận được. Vì vậy, nhãn hiệu chỉ mang tính vật thể, còn thương hiệu mang tính phi vật thể. Nhãn hiệu là những gì đập vào mắt, vào giác quan và là thông điệp phát ra từ phía doanh nghiệp. Còn thương hiệu thể hiện mối quan hệ qua lại, sự gặp nhau giữa người phát thông điệp và người nhận, nó là sự tương tác giữa tâm lý người phát và tâm lý người nhận” (Nguyễn Việt Thanh, 2009, tr.
Giá trị thương hiệu: Một trong những khái niệm phổ biến và quan trọng nhất trong Marketing được khám phá vào thập niên 80 đó là giá trị thương hiệu. Vẫn chưa có quan điểm thống nhất để định nghĩa và đo lường giá trị thương hiệu. Winters (1991) đã nói rằng nếu bạn bảo mười người định nghĩa giá trị thương hiệu, bạn có thể có mười câu trả lời khác nhau, thậm chí mười một. Giá trị thương hiệu là một khái niệm phức tạp bởi sự đa dạng của nó, các lý thuyết khoa học về nó được ví như hội chứng “thầy mù xem voi” (Ambler, 2003).
Mỗi nghiên cứu mô tả những khía cạnh khác nhau của loại tài sản vô hình này. Cụ thể: - Feldwick (1996) đơn giản hoá nhiều cách tiếp cận, bằng cách liệt kê các ý nghĩa khác nhau của giá trị thương hiệu: (1) tổng giá trị của thương hiệu là tài sản riêng biệt; (2) khi nó được bán hoặc được thể hiện trong bảng cân đối; (3) là thước đo sức mạnh của thương hiệu trong tâm trí khách hàng; (4) mô tả những liên tưởng và niềm tin của người tiêu dùng về thương hiệu. - Ambler & Styles (1996) đề xuất việc các nhà quản trị thương hiệu lựa chọn giữa lợi nhuận trước mắt hay cho mục tiêu dài hạn bằng khái niệm giá trị thương hiệu được định nghĩa là tập hợp lợi nhuận được lưu giữ cho tương lai. - Srivastava & Shocker (1991) cho rằng giá trị thương hiệu là sự tập hợp tất cả những thái độ tích lũy và những kiểu mẫu hành vi trong ý nghĩ của người tiêu dùng, các kênh phân phối, các đại lý có ảnh hưởng, đồng thời tập hợp này giúp gia tăng lợi nhuận tương lai và dòng tiền trong dài hạn.
- Davis (1995) nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của giá trị thương hiệu. Ông xác định giá trị thương hiệu là những lợi ích và đóng góp mang tính chiến lược đầy tiềm năng mà một thương hiệu có thể mang lại cho doanh nghiệp. - Keller (1993) tiếp cận giá trị thương hiệu thông qua sức mạnh của thương hiệu dựa vào khách hàng. Ông đề xuất rằng giá trị thương hiệu đại diện cho trạng thái mà người tiêu dùng quen thuộc với thương hiệu và nhớ đến những 10 liên tưởng mạnh, thuận lợi và độc nhất của thương hiệu.
Do đó, kiến thức thương hiệu có ảnh hưởng khác biệt lên phản ứng của người tiêu dùng đối với các chương trình Marketing của một thương hiệu. - Winters (1991) đề cập đến giá trị gia tăng của giá trị thương hiệu bằng gợi ý rằng giá trị thương hiệu liên quan đến giá trị gia tăng đối với sản phẩm thông qua những liên tưởng và nhận thức của người tiêu dùng đối với một thương hiệu cụ thể. Không rõ bằng cách nào giá trị gia tăng được áp dụng, nhưng giá trị thương hiệu phù hợp với danh mục của mô tả thương hiệu và sức mạnh của thương hiệu như đã được nêu ở trên. - Leuthesser (1988) cung cấp một định nghĩa rộng về giá trị thương hiệu, đó là một tập hợp những liên tưởng và hành vi dựa trên một phần khách hàng của thương hiệu, các thành viên kênh, doanh nghiệp mẹ, tập hợp này cho phép thương hiệu có doanh thu và lợi nhuận cao hơn khi nó không có thương hiệu.
- Pitta & Katsanis (1995) cho rằng giá trị thương hiệu tăng xác suất lựa chọn thương hiệu, dẫn đến sự trung thành đối với thương hiệu và bảo vệ thương hiệu khỏi các mối đe dọa cạnh tranh trong giới hạn nhất định. Căn cứ vào cơ sở lý thuyết trên đây về giá trị thương hiệu, ta thấy rõ ràng có nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị thương hiệu cũng như các thành phần của nó.