Chương 1: Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây tại các nước trên thế giới về ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nợ công và lãi suất vay nợ. Chương 3: Dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và phân tích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận, giải pháp, hạn chế và hướng phát triển của đề tài 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.
Nợ công Hiện nay nợ công vẫn chưa có khái niệm thống nhất do tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Phổ biến nhất, nợ công được xác định bao gồm nợ của khu vực chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Tại Bungari, Rumani, Việt Nam, nợ của khu vực chính quyền địa phương cũng được tính vào nợ công. Ở Thái Lan, nợ công còn bao gồm thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận.
Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam năm 2009 quy định: Nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2002 thì nợ công bao gồm những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh. Nếu chúng ta xem nợ của Chính phủ bao gồm nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợ công của Việt Nam giống với định nghĩa của WB. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) năm 2010 định nghĩa nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công.
Trong đó nêu rõ khu vực công bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực các tổ chức công. Khu vực chính phủ bao gồm Chính phủ Trung ương, Chính quyền liên bang và Chính quyền địa phương. Khu vực các tổ chức công bao 123doc 7 gồm các tổ chức công tài chính (Ngân hàng Trung ương, các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi và các tổ chức tài chính công khác) Như vậy, theo định nghĩa của IMF, nợ chính phủ là nợ ở các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương và khu vực các tổ chức công bao gồm các tổ chức công tài chính và các tổ chức công phi tài chính. Tổ chức công tài chính là các tổ chức nhận hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện các dịch vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, bảo hiểm hay quỹ lương hưu.
Tổ chức công phi tài chính bao gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước như điện lực, viễn thông, bệnh viện công và các trường đại học công lập. So với Luật quản lý nợ công của Việt Nam và Ngân hàng Thế giới, định nghĩa của IMF đầy đủ và chi tiết hơn. Tuy có sự khác biệt giữa các cách định nghĩa này, nhưng nhìn chung các khoản nợ của khu vực các tổ chức công là các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh trong trường hợp các tổ chức này vỡ nợ. Nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách chính phủ và qui mô nợ công thường bằng với qui mô thâm hụt ngân sách tích tụ qua các năm.
Nguyên nhân dẫn dến nợ công là do mất cân đối chi tiêu, chi nhiều hơn thu nên phải vay nợ để bù đắp chênh lệch thu chi. Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính phủ thường không chọn chính sách phát hành tiền vì có nguy cơ xảy ra lạm phát mà ưu tiên chính sách vay nợ trong và ngoài nước. Như vậy, để có ngân sách thanh toán các khoản vay và lãi khi đến hạn, chính phủ thường cân nhắc đến việc tăng thuế. Xét cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế.
Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế). Đứng trên quan điểm nợ công là sự tăng thuế trong tương lai, tồn tại hai quan điểm cơ bản: 123doc 8 Keynes đại diện quan điểm truyền thống về nợ công cho rằng việc vay nợ của chính phủ để phục vụ nhu cầu chi tiêu trong ngắn hạn vẫn khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai, về lâu dài sẽ giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn.
Trái ngược với quan điểm trên, theo quan điểm kinh tế học vĩ mô cổ điển (hình thành từ thập niên 1970), đứng đầu là Ricardo-Barro cho rằng việc dùng vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn không kích thích chi tiêu, vì tăng vay nợ chỉ làm dịch chuyển nghĩa vụ thuế từ hiện tại sang tương lai chứ không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân. Việc cắt giảm thuế và vay nợ sẽ không gây ra những tác động thực sự đối với nền kinh tế.2 Nền kinh tế ngầm Nền kinh tế ngầm luôn tồn tại song song với nền kinh tế chính thức, nó là một hiện tượng xảy ra ở hầu hết các thị trường trên thế giới. Đối với các quốc gia phát triển thì khái niệm nền kinh tế ngầm đã khá quen thuộc nhưng nó lại là một hiện tượng được quan tâm gần đây ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường như Việt Nam. Feige (1986, 1989) khẳng định nền kinh tế ngầm bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế được tính toán (hoặc quan sát) chính thức vào tổng sản phẩm quốc gia (GNP) nhưng không được đăng ký.
Khác với Edgar L. Feige, Smith (1994) khẳng định nền kinh tế ngầm không được đo lường chính thức và tính toán trong giá trị GDP quốc gia. Nền kinh tế ngầm bao gồm toàn bộ các hoạt động xảy ra trên thị trường hàng hóa và dịch vụ, bất kể hợp pháp hay không. Tương tự định nghĩa của Smith (1994), Feige (1989), Dell’Anno và Schneider (2004) xem nền kinh tế ngầm là các hoạt động kinh tế và những khoản thu nhập tránh sự điều tiết của chính phủ và hệ thống thuế.
Các hình thức hoạt động của nền kinh tế ngầm được thể hiện tại bảng 2.1: Phân loại hình thức hoạt động của kinh tế ngầm Hoạt động phi pháp Giao dịch bằng tiền Giao dịch không bằng tiền Mua bán hàng hóa bị cướp, mua bán và sản xuất + Trao đổi: ma túy, hàng hóa bị cướp, buôn ma túy, mại dâm, cờ bạc, buôn lậu và gian lận. + Trồng trọt hay sản xuất ma túy để sử dụng cá nhân. + Trộm cắp để sử dụng cá nhân. Hoạt động hợp pháp Trốn thuế Tránh thuế Trốn thuế Tránh thuế + Thu nhập không được + Giảm giá để nhân Trao đổi trực Các công việc tự làm ghi nhận từ việc làm cá viên mua sản phẩm tiếp hàng hóa (không thuê mướn nhân nhân.
của công ty và dịch vụ công) và được sự trợ giúp + Thu nhập, lương và tài + Các loại “phúc hợp pháp. của người thân, hàng sản từ công việc không lợi được miễn thuế” xóm. được ghi nhận lại liên quan đến hàng hóa và dịch vụ hợp pháp. Nguồn: Rolf Mirus và Roger S.
Smith (1997), trang 5 123doc 10 2.2 Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến quy mô nợ công và lãi suất vay nợ của chính phủ 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô nợ công Hiện nay có một số lượng lớn các nghiên cứu lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của nợ công đối với các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế trưởng kinh tế (Cohen, 1997; Calvo, 1998; Pattillo và cộng sự, 2002), giá cả và sự ổn định tài chính (Woodford, 1996), xác suất vỡ nợ quốc gia (Lonning, 1999), lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, xếp hạng tín dụng của các quốc gia (Afonso, 2002). Tuy nhiên, khi nhìn vào nguồn gốc vấn đề, chúng ta cần đặt ra câu hỏi những yếu tố nào có sức ảnh hưởng lớn nhất đến quy mô nợ công. Các tài liệu nghiên cứu hiện có về chủ đề này cho thấy có hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng lớn nhất đến nợ công là yếu tố thể chế (bao gồm tham nhũng, hệ thống thuế, ổn định chính trị…) và các yếu tố kinh tế vĩ mô (cú sốc tài chính, lạm phát, tăng trưởng).1 Yếu tố thể chế Tham nhũng Một nhân tố quan trọng có tác động lớn đến mức độ nợ công thể hiện chất lượng thể chế được nhắc đến trong rất nhiều bài nghiên cứu đó chính là tham nhũng. Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất chung về tham nhũng nên theo mỗi quan điểm, tham nhũng có một định nghĩa khác nhau.
Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng tham nhũng là “sự lạm dụng quyền lực công cho mục đích cá nhân, gây thiệt hại lợi ích công”. Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) nghiên cứu vấn đề tham nhũng ở khu vực công đã đưa ra định nghĩa tham nhũng là “sự lạm dụng quyền lực được giao để thu lợi riêng”. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng tham nhũng là “lạm dụng các quỹ hoặc chức vụ công để thu lợi ích chính trị hay lợi ích vật chất riêng”. Luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam (2005) định nghĩa tham nhũng là “hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.
Theo Báo cáo PAPI 2010, sự không thống nhất về khái niệm tham nhũng là do 123doc 11 thực tiễn và chuẩn mực của các xã hội và văn hóa có nhiều khác biệt.