Chương 1 đã giới thiệu sơ lược về mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu, mối tương quan giữa khả năng thích ứng tổ chức với sự thay đổi môi trường đến kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức. Mục đích của chương này là trình bày các vấn đề về lý thuyết và những nghiên cứu liên quan trước đây trên thế giới. Trên cơ sở đó, xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển thành các giả thuyết nghiên cứu. Chương này gồm có các phần chính như sau: Lý thuyết về khả năng thích ứng tổ chức với sự thay đổi môi tường (Organizational Agility); Lý thuyết về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty (Firm Performance); Mối liên hệ giữa các thành phần của khả năng thích ứng tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh; Mô hình nghiên cứu (conceptual framework) và các giả thuyết nghiên cứu của đề tài cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này.1 Các lý thuyết liên quan đến đề tài 2.1 Lý thuyết về khả năng thích ứng tổ chức với sự thay đổi môi trường 2.1 Vấn đề về định nghĩa khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường Khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường (Agility, sau đây sẽ gọi tắt là khả năng thích ứng), là một khái niệm kinh doanh, được đặt ra trong các doanh nghiệp sản xuất - đặc biệt là liên quan đến khả năng thích ứng của hệ thống các doanh nghiệp sản xuất (Christopher và Towill 2002).
Sau đó, ý tưởng về khả năng thích ứng trong sản xuất đã được mở rộng vào một bối cảnh kinh doanh rộng hơn (Nagel và Dove 1991). Các khái niệm về khả năng thích ứng và ảnh hưởng của nó lên quá trình phát triển sản phẩm như một đặc điểm tổ chức được sinh ra. Năm 1991, một báo cáo của Iacocca khuyến nghị việc thông qua một mô hình sản xuất linh hoạt liên quan đến nền tảng của cạnh tranh, những đặc tính, các yếu tố của khả năng thích ứng. Một số học giả cho rằng Báo cáo quan niệm về khả năng thích ứng còn mập mờ, và khuyến khích làm rõ và hoàn thiện các khái niệm về khả 7 năng thích ứng.
Họ khẳng định rằng khái niệm về khả năng thích ứng cần có căn cứ tốt hơn trong lý thuyết quản trị (Yusuf et al. Tuy nhiên, báo cáo này dường như đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu về khả năng thích ứng trong các doanh nghiệp sản xuất (Goldman và cộng sự năm 1995). Cùng với nhau, các nghiên cứu học thuật này đã thúc đẩy phát triển của mô hình sản xuất linh hoạt (AM – agile manufacturing diagram). Vượt qua các doanh nghiệp sản xuất, các nhà nghiên cứu thực hiện mở rộng mô hình, nhấn mạnh khía cạnh khác nhau và phác thảo ra quan điểm khác nhau của khả năng thích ứng.2 Định nghĩa khả năng thích ứng Từ cuối những năm 1980 cho đến giữa những năm 1990, bùng nổ sự phát triển kinh tế khắp thế giới, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để hiểu được nguồn gốc và các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh.
Năm 1991, một số nhà khoa học phát hiện ra rằng sự tăng trưởng của những thay đổi trong môi trường kinh doanh là nhanh hơn so với khả năng đáp ứng và khả năng thích ứng với những thay đổi này của các tổ chức truyền thống. Các tổ chức này không thể sử dụng những lợi thế của các cơ hội mà họ đã có. Và tình trạng này có thể dẫn đến phá sản và thất bại trong dài hạn (Hormozi, 2001; Dove, 1994). Trong thời gian này, công nghệ, điều kiện thị trường, nhu cầu khách hàng thay đổi theo các hướng khác nhau và nó khiến tổ chức ngày nay gặp phải các vấn đề như những thay đổi nhanh chóng và không thể dự đoán được.
Ngày nay, tổ chức đã phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng do thiếu tính tổ chức và sự hỗn loạn trong môi trường đổi mới công nghệ và những thay đổi trong nhu cầu khách hàng. Do đó, các tổ chức có xu hướng tìm tới các hình thức khác nhau để tồn tại và duy trì vị trí của họ. Một trong những hình thức mới nhất của tổ chức là hình thức tổ chức linh hoạt (agile organization). Một mô hình mới được đưa ra trong một cáo cáo của tổ chức Iacocca được giới thiệu tới công chúng (Goldman và cộng sự.
Khả năng thích ứng là tập hợp các khả năng và năng lực duy trì sự tồn tại và phát triển của tổ chức trong môi trường kinh doanh và điều chỉnh công nghệ thông 8 tin, nhân sự, và quy trình kinh doanh trong một hệ thống đồng nhất và linh hoạt (Jafarnejad và Shahabi, 2008). Như vậy chúng ta có thể nói, khả năng thích ứng là khả năng của tổ chức có thể hiểu và dự đoán thay đổi trong môi trường kinh doanh (Sharifi và Zhang, 1999). Những khả năng này là để phản ứng một cách nhanh chóng với những thay đổi đột ngột và không thể đoán trước và đáp ứng một cách hiệu quả cho khách hàng (Katayama, 1999). Xem chi tiết tóm tắt các định nghĩa về khả năng thích ứng của các tác giả trên thế giới tại PHỤ LỤC 6.3 Định nghĩa khả năng thích ứng tổ chức với sự thay đổi môi trường Định nghĩa về khả năng thích ứng tổ chức với sự thay đổi môi trường (Organizational Agility, sau đây sẽ gọi tắt là OA hay khả năng thích ứng tổ chức) được xác định bởi bốn nhà nghiên cứu tại đại học Lehigh (Goldman, Preiss, Nagel, & Dove, 1991), những người mà Quốc hội Mỹ đã yêu cầu viết một báo cáo về chiến lược của các công ty công nghiệp trong thế kỷ 21.
Báo cáo này đã xác định rằng hệ thống hiện tại của sản xuất hàng loạt không đủ để đảm bảo cải thiện trong sự gia tăng của cạnh tranh, vốn đã phát triển ở một mức độ cao của sự linh hoạt, đặc biệt là tại Châu Á. Báo cáo kết luận rằng, một hệ thống sản xuất mới phải được ra đời, một trong đó sẽ dựa vào OA, nhằm để đáp ứng nhu cầu tạo ra bởi các yếu tố mới của cạnh tranh. Ngay sau khi báo cáo, AMEF (Agile Manufacturing Enterprise Forum) được tạo ra để khuyến khích và truyền bá quan điểm này trong các doanh nghiệp tại Mỹ. Trong thực tế, các công ty lớn nhất của Mỹ, đặc biệt là trong các lĩnh vực IT và điện thoại, đã được thông qua các khái niệm về OA giữa những năm 1990.
Tới đầu những năm 2000, Microsoft đã tự tô vẽ mình rộng rãi trong khẩu hiệu quảng cáo như một “Doanh nghiệp linh hoạt (agile business)”, áp dụng mô hình OA cho cả công ty và cả khách hàng của mình. Các công ty như IBM và Google cũng dựa vào mô hình này để tăng khả năng cạnh tranh (Dyer & Shafer, 1999). Mặc dù các nhóm công nghệ và dịch vụ lớn thường sử dụng các từ ngữ “agile” hay “agility” trong 9 giao tiếp, những hiếm khi có sự nhất trí giải thích ý nghĩa của các từ này (Shafer, 1997; Sherehiy, et al, 2007). Các học giả đã định nghĩa OA nói chung như khả năng thích ứng tổ chức để đáp ứng lại nhanh chóng với những thay đổi của môi trường (Breu, et al., 2001; Gunasekaran, 1999; Yusuf, et al.
OA luôn liên quan tới môi trường và thị trường. Trên hết, nó tương ứng với khả năng của một tổ chức để đối phó hiệu quả với sự thay đổi của điều kiện thị trường và môi trường hỗn loạn. Theo Goldman và cộng sự (1995), nó là một phản ứng có chủ ý mà cho phép các công ty phát triển mạnh và thịnh vượng trong một môi trường cạnh tranh có cơ hội thị trường thay đổi liên tục không thể đoán trước. Khi chúng ta nhìn vào khả năng vốn có của khả năng thích ứng, xuất hiện ở vị trí đầu tiên là khả năng thích ứng một cách nhanh chóng và hiệu quả tới những thay đổi môi trường (sự phát triển công nghệ, mong muốn của khách hàng, hay chiến lược của đối thủ cạnh tranh…).
Vài tác giả nhấn mạnh mặt chủ động của khả năng thích ứng, bởi vì nó cho thấy khả năng khai thác sự thay đổi như một cơ hội (Dove, 2001; Doz & Kosonen, 2007; Kidd, 1994; Sharifi & Zhang, 1999). Thật vậy, nó là một câu hỏi của dự đoán và nắm bắt những cơ hội mới hoặc khởi nguồn cho những đổi mới mang tính đột phá (Breu, et al., 2001; Dyer & Shafer, 2003; Yusuf, et al. “Như vậy các khái niệm về OA trở thành những mô tả của một mô hình tổ chức cho phép không chỉ cải thiện thời gian phản ứng (trong chuỗi “quan sát + quyết định”), mà còn khả năng linh hoạt và thậm chí nhiều hơn, dự đoán và đổi mới liên tục, đặc biệt là thông qua một sự hiểu biết đặc biệt với tất cả các tác nhân, cả bên trong và bên ngoài các công ty” (Yusuf, 1999). Một số tác giả lưu ý tầm quan trọng của sức mạnh tổng hợp, kết quả từ sự hợp tác nội bộ và bên ngoài, trong sự phát triển của OA (Goldman, et al, 1991, 1995; Sharp, Irani, & Desai, năm 1999; Sanchez & Nagi, 2001).
Nghiên cứu của Audrey (2011) đưa ra định nghĩa về OA như là khả năng đáp ứng được tìm kiếm và phát triển một cách có chủ đích bởi tổ chức cho phép nó phản ứng lại một cách có hiệu quả những sự thay đổi của môi trường bởi sự phức tạp, bất ổn, và không chắc chắn. Khả năng thích ứng tương ứng với sự thích ứng lâu dài của 10 tổ chức, đạt được không chỉ bằng phản ứng một cách nhanh chóng tới sự thay đổi mà còn thông qua tiềm năng hoạt động của nó trong việc dự đoán và nắm bắt cơ hội trong sự thay đổi, đặc biệt thông qua dự đoán, đổi mới và học hỏi. Như vậy, OA xuất hiện như một cấu trúc tiềm ẩn và đa chiều (Goldman, et al, 1991, 1995; Tsourvelousdis & Valavanis, 2002) mà nội dung của nó là rõ ràng hơn để đưa ra một công cụ đo lường có thể cung cấp đầy đủ những khía cạnh đại diện khác nhau của nó. (Xem chi tiết các định nghĩa về OA ở PHỤ LỤC 6) Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả đưa ra khái niệm OA đó là khả năng của một tổ chức có sự nhìn nhận và đáp ứng một cách nhanh chóng với sự thay đổi môi trường thông qua năng lực dự báo của mình.4 Các thành phần của OA Các thành phần của OA là các thuộc tính của tổ chức được tạo ra để phát triển các khả năng của tổ chức để đáp ứng với những tình huống thay đổi nhanh chóng.
Những thành phần này bao gồm: Sự linh hoạt (Flexibility), Sự nhanh chóng (Quickness), Sự phản hồi (Responsiveness), Năng lực (Competency).