Tổng quan nghiên cứu

Khu vực thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long đang trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ theo định hướng quy hoạch đến năm 2025 tại Quyết định số 207/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hàng loạt công trình trọng điểm như cầu Cần Thơ, Cảng Cái Cui, cụm nhiệt điện Ô Môn và các tuyến giao thông huyết mạch đòi hỏi các giải pháp kết cấu móng sâu có khả năng chịu tải trọng lớn. Tuy nhiên, điều kiện địa chất khu vực mang đặc trưng trầm tích đồng bằng tích tụ với tầng đất sét mềm yếu Holocen dày từ 20m đến 30m, sức chịu tải rất thấp dưới 0,5 kg/cm2, mực nước ngầm dao động nông từ 0,5m đến 1,0m. Lớp đất chịu lực Pleistocen chỉ xuất hiện ở độ sâu từ 29m đến trên 40m với sức chịu tải từ 2,0 kg/cm2 đến 4,0 kg/cm2.

Trong bối cảnh nền đất yếu phân bố sâu, giải pháp cọc ống thép hở mũi (không bịt mũi) thể hiện ưu thế vượt trội về cường độ vật liệu cao, khả năng hạ sâu vượt tầng sét yếu và giảm đáng kể lực cản đóng cọc so với cọc bịt mũi truyền thống. Tuy nhiên, khi đóng cọc hở mũi vào lòng đất, sự xâm nhập và nén chặt của khối đất bên trong tạo nên hiện tượng cột đất chèn (soil plug). Ứng xử cơ học phức tạp của cột đất chèn tác động trực tiếp đến ma sát thành bên trong và sức kháng mũi tổng hợp của cọc, gây nhiều khó khăn cho công tác tính toán thiết kế.

Luận văn tập trung phân tích định lượng sự ảnh hưởng của cột đất chèn bên trong cọc ống thép đóng không bịt mũi đến sức chịu tải cực hạn của cọc trong điều kiện địa chất cụ thể tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu khảo sát 4 dải đường kính cọc từ 400mm đến 1300mm ở cùng chiều sâu hạ cọc 30m. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học quan trọng giúp tối ưu hóa chiều dài chôn cọc, giảm thiểu từ 15% đến 25% chi phí vật tư thép móng và rút ngắn tiến độ thi công hạ cọc tại các dự án giao thông, thủy công ven sông Hậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tính toán sức chịu tải cọc ống thép hở mũi theo Hội nghị Địa kỹ thuật Đông Nam Á lần thứ 6, xác định sức chịu tải cực hạn tổng quát của cọc gồm ba thành phần: sức kháng ma sát thành ngoài, sức kháng vành mũi cọc và ma sát thành bên trong cọc do cột đất chèn tạo ra. Mức độ chèn đất được định lượng thông qua hai chỉ số cốt lõi là chỉ số lấp đầy gia tăng IFR và chỉ số chiều dài nêm đất chèn PLR theo phương pháp của Kyuho Paik và Rodrigo Salgado.

Bên cạnh đó, cơ sở lý thuyết tính toán ma sát thành đơn vị trong tầng đất dính áp dụng phương pháp hệ số lambda của Focht và Vijavergiya, kết hợp công thức thực nghiệm của Hara xác định sức kháng cắt không thoát nước qua số đọc xuyên tiêu chuẩn SPT hiệu chỉnh theo năng lượng 60%. Sức kháng mũi đơn vị được xác định theo mô hình của De Ruiter và Beringen. Để đánh giá chiều dài cột đất chèn cân bằng dưới tác dụng của tải trọng tĩnh và lực quán tính tải trọng động khi đóng cọc, luận văn sử dụng hệ phương trình cân bằng lực của tác giả M. Cho. Tương tác tiếp xúc giữa bề mặt thép và đất nền được mô tả qua mô hình đàn dẻo Mohr-Coulomb và mô hình tăng cứng đất Hardening Soil với các tham số độ cứng biến dạng hữu hiệu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu địa kỹ thuật được trích xuất từ báo cáo khảo sát địa chất công trình tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, bao gồm các hố khoan thăm dò sâu đến 40m tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật như TCVN 5747:1993, TCVN 4195:1995 đến TCVN 4202:1995 và quy trình khoan thăm dò 22 TCN 259:2000.

Mẫu nghiên cứu lựa chọn 4 loại cọc ống thép tiêu chuẩn thường dùng trong xây dựng công trình cảng và cầu lớn gồm: SPP-400 (đường kính ngoài 0,4m, dày 14mm), SPP-700 (đường kính ngoài 0,7m, dày 16mm), SPP-1000 (đường kính ngoài 1,0m, dày 18mm) và SPP-1300 (đường kính ngoài 1,3m, dày 20mm). Toàn bộ các cọc đều được khảo sát ở cùng chiều sâu hạ cọc 30m, ngàm vào tầng sét nửa cứng đến cứng Pleistocen có mô đun biến dạng E50% đạt 11034 kN/m2.

Phương pháp phân tích kết hợp ba hướng tiếp cận bổ trợ lẫn nhau: tính toán giải tích theo lý thuyết Paik - Salgado, tính toán bán thực nghiệm theo Schmermann SPT, và mô phỏng số phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) trên phần mềm chuyên dụng PLAXIS 2D (phiên bản 8.5) cùng PLAXIS 3D Foundation (phiên bản 1.6). Việc ứng dụng mô hình số 3D với phần tử nêm 15 nút được lựa chọn nhằm mô phỏng chính xác sự phát triển vùng dẻo cục bộ, hiệu ứng vòm ứng suất của nút đất và phần tử tiếp xúc Interface giữa vỏ thép và lõi đất. Quá trình nghiên cứu và xử lý số liệu được triển khai hoàn chỉnh từ tháng 8/2013 đến tháng 12/2013 và nghiệm thu bảo vệ vào tháng 02/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu xác nhận chiều dài cột đất chèn hình thành bên trong lòng cọc tỷ lệ thuận rõ rệt với đường kính cọc. Ở cùng chiều sâu hạ cọc 30m trong địa tầng Cần Thơ, cọc đường kính nhỏ SPP-400 nhanh chóng tạo nút nêm chặt hoàn toàn với chiều dài cột đất ngắn, trong khi cọc đường kính lớn SPP-1300 có chiều dài cột đất chèn tăng lên đáng kể do diện tích rỗng lòng cọc lớn làm giảm lực ép ngang ban đầu.

Thứ hai, tỷ số giữa sức kháng mũi đơn vị và ma sát thành đơn vị đóng vai trò quyết định đến tốc độ hình thành cột đất. Khi mũi cọc tiến vào lớp sét cứng Pleistocen (tầng CL2 từ độ sâu 29m đến 40m) có sức kháng mũi đơn vị lớn gấp 8 đến 12 lần ma sát thành đơn vị của các lớp bùn sét Holocen phía trên, cột đất bên trong bị nén chặt mãnh liệt, chuyển cọc từ trạng thái mở sang trạng thái đóng nêm hoàn toàn.

Thứ ba, sự hình thành cột đất chèn đóng góp trực tiếp làm gia tăng sức chịu tải cực hạn của cọc ống thép hở mũi từ 35% đến 60% so với trường hợp giả định cọc hoàn toàn không hình thành nút đất. Kết quả phân tích phần tử hữu hạn trên PLAXIS 3D cho thấy độ tương đồng rất cao với phương pháp lý thuyết Paik - Salgado với độ lệch chỉ từ 8% đến 12%, trong khi phương pháp thực nghiệm Schmermann SPT cho kết quả thiên về an toàn hơn từ 15% đến 20%.

Thứ tư, khi chịu tải trọng nén tĩnh dọc trục, độ lún ban đầu của cọc hở mũi cao hơn cọc bịt mũi cùng kích thước khoảng 10% đến 18%. Tuy nhiên, khi tải trọng đạt tới ngưỡng huy động ma sát trong của cột đất chèn, đường cong lún có xu hướng ổn định và tiệm cận với khả năng chịu lực của cọc đặc.

Thảo luận kết quả

Cơ chế gia tăng sức chịu tải của cọc hở mũi tại địa chất Cần Thơ bắt nguồn từ sự hình thành hiệu ứng vòm ứng suất bên trong lòng ống thép. Khi cọc xuyên qua 4 lớp đất mềm (CH1, CH2, CL1, CH3) và cắm vào lớp sét cứng CL2 có mô đun biến dạng E50% = 11034 kN/m2 cùng lực dính c' cao, ứng suất pháp hữu hiệu tác dụng lên thành trong của cọc tăng vọt. Khối đất bên trong bị kẹp chặt bởi ma sát thành trong, đóng vai trò như một mũi cọc bê tông tự nhiên ngăn không cho đất tiếp tục lọt vào lòng cọc, từ đó kích hoạt toàn bộ diện tích tiết diện đáy cọc tham gia chịu lực mũi.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn của Tập đoàn Thép Nippon Steel và nhóm nghiên cứu Đại học Giao thông Vận tải khi ứng dụng cọc ống thép đường kính 700mm đến 1000mm, dài 49m đến 55m tại Dự án Cảng quốc tế Cái Mép - Thị Vải và Cảng Cái Cui. Trên các biểu đồ quan hệ Tải trọng - Chuyển vị trích xuất từ phần mềm PLAXIS, ứng xử của cọc thể hiện rõ ba giai đoạn: giai đoạn đàn hồi tuyến tính ban đầu, giai đoạn huy động ma sát thành trong và ngoài khi chuyển vị đạt từ 10mm đến 15mm, và giai đoạn nút đất làm việc toàn diện đẩy sức chịu tải cực hạn đạt đỉnh ở mức chuyển vị từ 25mm đến 35mm. Việc thể hiện các đường cong chuyển vị qua các mặt cắt hố khoan địa chất giúp kỹ sư nhận diện chính xác thời điểm cọc phát huy đầy đủ sức kháng mũi.

Đề xuất và khuyến nghị

Tích hợp quy trình tính toán sức chịu tải cọc ống thép hở mũi có xét đến hệ số lấp đầy IFR và chiều dài cột đất chèn vào hồ sơ thiết kế kỹ thuật móng sâu cho các công trình ven sông Hậu, nâng cao độ chính xác dự báo sức chịu tải lên 90% thay vì xem cọc làm việc đơn thuần như cọc ma sát rỗng. Thời gian triển khai áp dụng ngay trong giai đoạn lập dự án từ quý 1/2024, do các đơn vị tư vấn thiết kế địa kỹ thuật và công trình thủy công chủ trì thực hiện.

Ban hành quy định đo đạc và kiểm soát chỉ số chiều dài nêm đất PLR trực tiếp tại hiện trường trong quá trình đóng cọc bằng thiết bị đo sâu cơ học hoặc cảm biến sóng âm, nhằm khống chế dung sai chiều cao cột đất không vượt quá 5% so với giá trị thiết kế dự tính. Công tác này cần được nhà thầu thi công và tư vấn giám sát thực hiện thường xuyên trên 100% số cọc thử và tối thiểu 20% số cọc đại trà.

Tổ chức thí nghiệm nén tĩnh dọc trục kết hợp lắp đặt hệ thống cảm biến biến dạng ngầm dọc thân cọc và tại vị trí đỉnh cột đất chèn cho ít nhất 2 cọc thử nghiệm tại mỗi dự án quy mô lớn, nhằm hiệu chuẩn chính xác ma sát thành trong và sức kháng vành mũi trong chu kỳ thử tải 30 ngày trước khi ép cọc hàng loạt. Chủ đầu tư dự án và viện nghiên cứu chuyên ngành chịu trách nhiệm bố trí kinh phí và nghiệm thu dữ liệu.

Chuẩn hóa hệ thống dữ liệu thông số địa kỹ thuật đầu vào phục vụ mô hình Hardening Soil trong PLAXIS từ thí nghiệm nén ba trục CU với áp lực buồng tiêu chuẩn 100 kN/m2 cho toàn bộ các phân vùng địa chất tại Cần Thơ, giảm thiểu sai số phân tích phần tử hữu hạn xuống dưới 7%. Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp với các trường đại học kỹ thuật hoàn thiện bộ dữ liệu địa kỹ thuật địa phương theo chu kỳ cập nhật 2 năm một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Kỹ sư thiết kế kết cấu nền móng và công trình thủy: Tiếp cận phương pháp tính toán giải tích kết hợp mô hình phần tử hữu hạn để xác định chính xác sức chịu tải của cọc ống thép đường kính 400mm đến 1300mm, giúp tối ưu hóa chiều dài hạ cọc và tiết kiệm hàng tỷ đồng chi phí thép cho các dự án cầu cảng.

Kỹ sư tư vấn giám sát và chỉ huy trưởng công trường: Nắm vững cơ chế hình thành nút đất và các thông số IFR, PLR để theo dõi, kiểm soát chất lượng hạ cọc hở mũi, phát hiện sớm hiện tượng cọc bị nghẽn đất cục bộ hoặc không đạt độ sâu chôn cọc yêu cầu trong tầng địa chất yếu.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Địa kỹ thuật Xây dựng: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang nghiên cứu chuyên sâu về mô hình hóa tương tác đất - cọc trên phần mềm PLAXIS 2D và 3D Foundation, kế thừa các công thức cân bằng tĩnh - động của cột đất chèn để phát triển các đề tài nghiên cứu tiếp theo.

Chủ đầu tư và ban quản lý dự án hạ tầng giao thông đô thị: Có thêm cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế để thẩm tra, phê duyệt giải pháp móng cọc ống thép hở mũi thay thế cho cọc khoan nhồi hoặc cọc bê tông cốt thép truyền thống, rút ngắn 20% thời gian thi công tại vùng đất yếu đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Cột đất chèn trong cọc ống thép hở mũi hình thành do đâu? Khi hạ cọc hở mũi vào đất, thành trong cọc tạo ma sát giữ lại khối đất bên trong. Dưới phản lực đáy móng và lực nén hông của các lớp sét dẻo, khối đất tích tụ tăng dần chiều cao tạo thành nút đất chèn kín lòng cọc.

Đường kính cọc ảnh hưởng thế nào đến chiều dài cột đất chèn? Đường kính cọc tỷ lệ thuận với chiều dài cột đất chèn. Khảo sát từ cọc SPP-400 đến SPP-1300 cho thấy đường kính càng lớn thì không gian tích tụ đất càng rộng, đòi hỏi chiều sâu cắm cọc lớn hơn để tạo đủ ma sát nêm chặt nút đất.

Cột đất chèn làm tăng hay làm giảm sức chịu tải của cọc ống thép? Cột đất chèn làm tăng đáng kể sức chịu tải cực hạn của cọc. Khối đất nêm chặt đóng vai trò truyền tải trọng đứng trực tiếp xuống tầng đất tốt đáy cọc, làm tăng sức chịu tải tổng thể thêm 35% đến 60% so với cọc không chèn.

Mô hình phần mềm PLAXIS 3D Foundation mang lại ưu điểm gì khi phân tích cọc hở mũi? PLAXIS 3D sử dụng phần tử nêm 15 nút và phần tử bề mặt Interface, giúp mô phỏng chính xác sự trượt tương đối giữa thành thép và đất, đồng thời phản ánh đúng ứng xử phi tuyến ba chiều của cột đất chèn trong không gian thực tế.

Khi nào nên ưu tiên chọn cọc ống thép không bịt mũi tại Cần Thơ? Nên ưu tiên chọn cọc ống thép hở mũi cho các công trình tải trọng lớn ven sông, bến cảng, mố trụ cầu vượt sông Hậu có tầng sét yếu sâu trên 20m, nhằm giảm phản lực đóng cọc và thi công nhanh hơn cọc bịt mũi.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ bản chất cơ học và định lượng chính xác ảnh hưởng của cột đất chèn bên trong cọc ống thép đóng không bịt mũi đến sức chịu tải cực hạn trong điều kiện địa chất đặc trưng tại thành phố Cần Thơ.
  • Xác lập mối tương quan tỷ lệ thuận giữa đường kính cọc từ 0,4m đến 1,3m với chiều dài phát triển của cột đất chèn ở chiều sâu hạ cọc tiêu chuẩn 30m.
  • Chứng minh tính hiệu quả vượt trội của việc kết hợp lý thuyết Paik - Salgado với mô hình số PLAXIS 3D Foundation trong việc dự báo sức chịu tải móng cọc hở mũi với sai số thấp dưới 12%.
  • Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc giúp các nhà thầu và đơn vị tư vấn tối ưu hóa chiều dài chôn cọc, giảm thiểu từ 15% đến 25% chi phí đầu tư kết cấu móng sâu cho các dự án giao thông, thủy công vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  • Đề xuất lộ trình cập nhật quy trình thiết kế và cơ sở dữ liệu địa kỹ thuật địa phương trong giai đoạn 2024 - 2025, mở rộng nghiên cứu thực nghiệm nén tĩnh hiện trường có quan trắc áp lực nút đất.

Các kỹ sư địa kỹ thuật, đơn vị tư vấn thiết kế và nhà quản lý dự án hãy tham khảo ngay luận văn này để áp dụng giải pháp tính toán cọc ống thép hở mũi tiên tiến, mang lại hiệu quả kinh tế và độ an toàn kết cấu tối ưu cho mọi công trình xây dựng.