Tổng quan luận án
Đề tài “Ảnh hưởng của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” do nghiên cứu sinh Lê Thị Bảo Như thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Mai Thị Hoàng Minh, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) năm 2022, thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số 9340301).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Chất lượng lợi nhuận là chủ đề trung tâm trong nghiên cứu kế toán và phân tích tài chính, trong đó tính ổn định của lợi nhuận (earnings persistence) được xem là thước đo đại diện quan trọng phản ánh khả năng duy trì kết quả kinh doanh trong tương lai. Sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (Book-Tax Differences - BTD) bắt nguồn từ sự khác nhau giữa các nguyên tắc ghi nhận của kế toán tài chính và luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Tại Việt Nam, sự ra đời và áp dụng Thông tư số 200/2014/TT-BTC từ ngày 01/01/2015 đã tạo ra bước chuyển biến lớn trong việc hạch toán, đo lường các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, các khoản dồn tích và thuế thu nhập hoãn lại. Đồng thời, tình trạng tránh thuế và hiện tượng chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán trên thị trường chứng khoán ngày càng phổ biến.
Mặc dù các nghiên cứu quốc tế đã xem xét mối quan hệ giữa BTD và tính ổn định của lợi nhuận, việc mở rộng phân tích đồng thời đối với thành phần dòng tiền, cũng như kiểm tra các nguyên nhân nội tại gây ra BTD (do điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế hay do sự khác biệt quy định thuần túy) trong bối cảnh các chế độ kế toán thay đổi tại một thị trường mới nổi như Việt Nam vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định mục tiêu chung là kiểm tra và đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận, xác định ảnh hưởng của BTD và các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định này; đồng thời so sánh sự khác biệt qua hai giai đoạn áp dụng chế độ kế toán tại Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể gồm:
- Kiểm tra và đo lường tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận, so sánh giữa giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019).
- Xác định và so sánh ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019.
- Xác định và so sánh ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận giữa hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019.
Câu hỏi nghiên cứu
- Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận tại Việt Nam như thế nào? Tính ổn định này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
- BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
- Các nguyên nhân gây ra BTD ảnh hưởng như thế nào đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận? Ảnh hưởng này trong giai đoạn trước khi áp dụng Thông tư 200 (2010–2014) và giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019) có khác nhau không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tính ổn định của lợi nhuận, tính ổn định của các thành phần trong lợi nhuận (dòng tiền và dồn tích), chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (BTD), và các nguyên nhân gây ra BTD.
- Phạm vi không gian: Các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2010–2019, được chia thành hai thời kỳ: 2010–2014 (trước Thông tư 200) và 2015–2019 (áp dụng Thông tư 200). Luận án không thu thập dữ liệu năm 2020–2021 do tác động tiêu cực bất thường của đại dịch Covid-19 đến báo cáo tài chính.
- Tiêu chí loại trừ mẫu: Loại trừ các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do đặc thù quy định; công ty có ít quan sát do mới niêm yết; công ty không đủ dữ liệu liên tục 3 năm; và công ty không áp dụng Thông tư 200 sau năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu tiền đề
Luận án hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung chính:
[Tổng quan nghiên cứu trước]
-
Nghiên cứu về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận:
- Nghiên cứu quốc tế: Ball và Brown (1969), Ball và Watts (1972) ban đầu cho rằng lợi nhuận biến động độc lập. Sau đó, Brooks và Buckmaster (1976), Freeman và cộng sự (1982), Lipe (1990) chứng minh lợi nhuận quá khứ có tính ổn định và liên hệ với lợi nhuận tương lai. Sloan (1996) khẳng định lợi nhuận hiện tại phản ánh lợi nhuận tương lai và chỉ ra thành phần dòng tiền có tính ổn định cao hơn thành phần dồn tích. Các công trình của Dechow (1994), Dechow và Dichev (2002), Richardson và cộng sự (2005, 2006), Dechow và Ge (2006), Oei và cộng sự (2008), Barth và cộng sự (2001), Fairfield và cộng sự (2003a, 2003b) tiếp tục phân tách các khoản dồn tích ngắn hạn, dài hạn, dồn tích tùy chỉnh để đánh giá sai số ước tính và sự suy giảm tính ổn định của lợi nhuận.
- Nghiên cứu trong nước: Lê Quang Minh và cộng sự (2013), Đường Nguyễn Hưng (2014), Bùi Quang Hùng và cộng sự (2021) đều xác nhận thành phần dòng tiền ổn định hơn thành phần dồn tích tại doanh nghiệp Việt Nam. Nguyet (2017), Vinh và Huong (2019), Hung và Van (2020), Nhung và cộng sự (2020) nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động lợi nhuận, sở hữu nước ngoài và chất lượng công bố thông tin.
-
Nghiên cứu ảnh hưởng của BTD đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần:
- Nghiên cứu quốc tế: Mills và Newberry (2001), Phillips và cộng sự (2003), Lev và Nissim (2004), Hanlon (2005), Tang (2006, 2007), Ayers và cộng sự (2010), Blaylock và cộng sự (2012), Guenther (2011), Jackson (2015). Hanlon (2005) chỉ ra rằng các công ty có BTD lớn có lợi nhuận và các khoản dồn tích ít ổn định hơn so với công ty có BTD nhỏ.
- Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thị Minh Trang (2011), Chúc Anh Tú (2014), Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015), Huỳnh Thị Cẩm Hà và cộng sự (2016), Trương Thùy Vân (2017), Trần Thị Lan Hương và Ngô Thị Hường (2017), M. Minh và Nhu (2019), Lê Thị Bảo Như và cộng sự (2020) chủ yếu phân tích định tính kỹ thuật kế toán hoặc kiểm tra ảnh hưởng của BTD đến tính thận trọng, chưa kiểm định định lượng tác động của BTD lên tính ổn định của các thành phần lợi nhuận.
-
Nghiên cứu về các nguyên nhân gây ra BTD:
- Nghiên cứu quốc tế: Desai (2003), Desai và Dharmapala (2006), Dyreng và cộng sự (2008), Frank và cộng sự (2009), Wilson (2009), Lisowsky (2010), Blaylock và cộng sự (2012), Ahnan và Murwaningsari (2019), Mulya (2020). BTD được xác định phát sinh từ ba nguồn chính: hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Earnings Management - EM), hành vi tránh thuế (Tax Avoidance - TAXAVOIDER), và sự khác biệt về quy định kế toán - thuế (BASE).
- Nghiên cứu trong nước: Hà và Quyên (2017), Khanh và Khuong (2019), Khương và cộng sự (2019), Hong và Linh (2020), H. Minh và cộng sự (2021), Ha và cộng sự (2021, 2022), Anh và Hoang (2021), Oanh và Gan (2022), Le và Moore (2022).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Luận án định vị và giải quyết ba khoảng trống học thuật:
- Đa số nghiên cứu thực nghiệm quốc tế tập trung vào thành phần dồn tích mà bỏ qua kiểm tra định lượng đối với thành phần dòng tiền khi xem xét tác động của BTD (vấn đề Hanlon nêu năm 2005 nhưng chưa thực hiện).
- Thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường mới nổi như Việt Nam phân tách rõ ràng ảnh hưởng của từng nguyên nhân gây ra BTD (EM, TAXAVOIDER, BASE) đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần cấu thành lợi nhuận.
- Chưa có công trình nào so sánh thực nghiệm ảnh hưởng của BTD trước và sau khi thay đổi chế độ kế toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC trong bối cảnh lộ trình thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam liên tục điều chỉnh giảm (từ 25% năm 2009 xuống 20% từ năm 2016).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng
Luận án vận dụng bốn lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu kế toán tài chính:
- Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision Usefulness Theory): Báo cáo tài chính cung cấp thông tin giúp người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế; chất lượng lợi nhuận và tính ổn định của các thành phần lợi nhuận là cơ sở dự báo dòng tiền và hiệu quả tương lai.
- Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Doanh nghiệp chịu sự giám sát từ nhiều nhóm lợi ích (cổ đông, chủ nợ, cơ quan thuế, nhà hoạch định chính sách). Sự khác biệt BTD phản ánh xung đột hoặc sự đánh đổi giữa việc trình bày kết quả kinh doanh với nghĩa vụ thuế.
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Sự bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và cổ đông tạo động cơ cho việc điều chỉnh lợi nhuận hoặc khai thác khoảng trống chính sách thuế để tối đa hóa lợi ích cá nhân, ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổn định của lợi nhuận.
- Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory): Giải thích và dự đoán hành vi lựa chọn chính sách kế toán của nhà quản trị dưới tác động của các điều khoản hợp đồng nợ, thù lao và chi phí chính trị (thuế).
Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Lợi nhuận kế toán (Pre-tax book income), Thu nhập chịu thuế (Taxable income), Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (BTD), Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (Cash flows), và Các khoản dồn tích (Accruals).
Phương pháp nghiên cứu và quy trình phân tích
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng động (dynamic panel data), kết hợp biến trễ của biến phụ thuộc ($Pt+1$ hồi quy theo $Pt$, $CFt$, $ACCt$). Quy trình phân tích bao gồm:
[Dữ liệu BCTC & Thuế (2010–2019)]
- Phân chia mẫu và phân loại BTD:
- Mẫu nghiên cứu được chia làm hai giai đoạn: 2010–2014 và 2015–2019.
- BTD được phân chia thành các nhóm con: Chênh lệch dương lớn (Large Positive BTD - LPBTD), Chênh lệch âm lớn (Large Negative BTD - LNBTD), và nhóm đối chứng (Small BTD).
- Từ nhóm LPBTD, tác giả thực hiện phân loại theo hai cách tiếp cận mới để nhận diện ba nguyên nhân: Nhóm điều chỉnh lợi nhuận tăng (EM), Nhóm tránh thuế (TAXAVOIDER), và Nhóm do khác biệt chính sách kế toán và luật thuế thuần túy (BASE).
- Kỹ thuật ước lượng hồi quy:
- Kiểm định F-test lựa chọn giữa Pooled OLS (POLS) và Fixed Effect Model (FEM).
- Kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier lựa chọn giữa POLS và Random Effect Model (REM).
- Kiểm định Hausman test lựa chọn giữa FEM và REM.
- Thực hiện kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của phần dư (Modified Wald test) và hiện tượng tự tương quan (Wooldridge test).
- Sử dụng phương pháp ước lượng Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares - FGLS) để khắc phục triệt để hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trên dữ liệu bảng động, đảm bảo tính vững của các hệ số ước lượng.
Nội dung chính theo từng chương
Phần Giới thiệu
Phần giới thiệu trình bày bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2009–2019, quá trình cải cách hệ thống thuế TNDN (lộ trình cắt giảm thuế suất từ 25% năm 2009 xuống 22% năm 2014 và 20% từ năm 2016), cùng tác động của việc ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC đối với hệ thống kế toán doanh nghiệp. Tác giả thiết lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát, ba mục tiêu cụ thể, ba câu hỏi nghiên cứu, phạm vi không gian (HOSE, HNX), thời gian (2010–2019, loại trừ 2020–2021) và cấu trúc 5 chương của luận án.
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 1 tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm nội dung:
- Tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận (Sloan, 1996; Dechow và Dichev, 2002; Richardson và cộng sự, 2005; Nhung và cộng sự, 2020).
- Ảnh hưởng của BTD (tổng BTD, BTD tạm thời, BTD vĩnh viễn, BTD âm/dương lớn) đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần (Hanlon, 2005; Blaylock và cộng sự, 2012; Lev và Nissim, 2004; Jackson, 2015).
- Ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD (điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế, khác biệt quy định kế toán - thuế) đến tính ổn định của lợi nhuận (Desai và Dharmapala, 2006; Frank và cộng sự, 2009; Wilson, 2009; Blaylock và cộng sự, 2012).
Chương này đúc kết kết quả đạt được và chỉ rõ khe hổng nghiên cứu tại Việt Nam làm căn cứ xây dựng luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
Chương 2 làm rõ các khái niệm về lợi nhuận kế toán, thu nhập chịu thuế, dòng tiền, các khoản dồn tích, bản chất của BTD và cơ chế phát sinh BTD. Vận dụng 4 lý thuyết nền (Thông tin hữu ích, Các bên liên quan, Đại diện, Kế toán thực chứng), tác giả xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu thực nghiệm kiểm định cho hai giai đoạn (trước và sau Thông tư 200):
- Giả thuyết H1a, H1b: Lợi nhuận và các thành phần lợi nhuận (dòng tiền, dồn tích) có tính ổn định; dòng tiền có tính ổn định cao hơn các khoản dồn tích.
- Giả thuyết H2a, H2b: BTD ảnh hưởng tiêu cực đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận; các công ty có BTD lớn (dương lớn LPBTD hoặc âm lớn LNBTD) có tính ổn định lợi nhuận thấp hơn các công ty có BTD nhỏ.
- Giả thuyết H3a, H3b: Trong nhóm LPBTD, các công ty có BTD phát sinh do điều chỉnh lợi nhuận (EM) có tính ổn định lợi nhuận và các thành phần thấp hơn nhóm BASE; ngược lại, các công ty có BTD phát sinh do tránh thuế (TAXAVOIDER) có tính ổn định lợi nhuận và các thành phần cao hơn nhóm BASE.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu thực nghiệm (Hình 3.1 trong văn bản), thiết lập các phương trình hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng động kế thừa từ mô hình của Sloan (1996), Hanlon (2005) và Blaylock và cộng sự (2012). Tác giả định nghĩa danh sách biến (Bảng 3.1), phương pháp đo lường BTD, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh ($CF$), các khoản dồn tích kế toán ($ACC$), biến giả phân nhóm $LPBTD$, $LNBTD$, và các biến đại diện cho nguyên nhân $EM$, $TAXAVOIDER$, $BASE$. Chương này trình bày chi tiết quy trình kiểm định thống kê: ma trận tương quan Pearson, hệ số phóng đại phương sai VIF, kiểm định F, kiểm định Breusch-Pagan, kiểm định Hausman, kiểm định khuyết tật phần dư và quy trình ước lượng FGLS.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả phân tích thống kê và hồi quy thực nghiệm:
- Thống kê mô tả và ma trận tương quan Pearson khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (VIF ở mức an toàn).
- Kết quả kiểm định mô hình xác nhận sự hiện diện của hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan phần dư, do đó phương pháp FGLS được lựa chọn làm phương pháp ước lượng chuẩn.
- Kết quả kiểm định tính ổn định: Trong cả hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019, lợi nhuận ($Pt$), dòng tiền ($CFt$) và các khoản dồn tích ($ACCt$) đều có tương quan dương có ý nghĩa thống kê với lợi nhuận tương lai ($Pt+1$). Hệ số hồi quy của dòng tiền luôn lớn hơn hệ số của các khoản dồn tích, khẳng định dòng tiền có tính ổn định cao hơn dồn tích.
- Kết quả ảnh hưởng của BTD: Trong giai đoạn áp dụng Thông tư 200 (2015–2019), các biến tương tác giữa BTD (đặc biệt là LPBTD và LNBTD) với lợi nhuận, dòng tiền và dồn tích mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, chứng minh BTD càng lớn thì tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần càng suy giảm.
- Kết quả ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra BTD: Đối với nhóm có chênh lệch dương lớn (LPBTD), công ty có BTD bắt nguồn từ điều chỉnh lợi nhuận ($EM$) làm suy giảm mạnh tính ổn định của lợi nhuận và dồn tích; trong khi công ty có BTD bắt nguồn từ tránh thuế ($TAXAVOIDER$) có lợi nhuận và các thành phần ổn định hơn so với nhóm xuất phát từ các nguyên nhân khác ($BASE$). Kết quả này nhất quán qua cả hai phương pháp phân loại nhóm tránh thuế.
| Nhóm biến / Mô hình |
Giai đoạn 2010–2014 (Trước TT 200) |
Giai đoạn 2015–2019 (Áp dụng TT 200) |
Kết luận giả thuyết |
| Tính ổn định của $Pt$ |
Có tính ổn định ($p < 0{,}01$) |
Có tính ổn định ($p < 0{,}01$) |
Chấp nhận H1a |
| So sánh ổn định: $CF$ vs $ACC$ |
Hệ số $CF$ > Hệ số $ACC$ |
Hệ số $CF$ > Hệ số $ACC$ |
Chấp nhận H1b |
| Tác động của BTD lớn |
Ảnh hưởng chưa rõ nét |
Làm giảm tính ổn định ($p < 0{,}05$) |
Chấp nhận H2a, H2b |
| Tác động nhóm EM (LPBTD) |
Làm giảm tính ổn định |
Làm giảm mạnh tính ổn định |
Chấp nhận H3a |
| Tác động nhóm TAXAVOIDER |
Tăng tính ổn định |
Tăng tính ổn định |
Chấp nhận H3b |
Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị
Chương 5 đúc kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, khẳng định việc đạt được các mục tiêu khoa học đề ra; nêu rõ 4 đóng góp lý thuyết và các đóng góp thực tiễn. Tác giả đề xuất hệ thống hàm ý chính sách và giải pháp quản trị hướng tới 3 nhóm đối tượng: Cơ quan quản lý nhà nước/Nhà hoạch định chính sách, Nhà quản trị doanh nghiệp/Kế toán trưởng, và Nhà đầu tư/Cổ đông. Cuối chương là các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý thuyết
- Củng cố bằng chứng thực nghiệm về tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần: Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam rằng lợi nhuận kế toán, dòng tiền và dồn tích đều có tính ổn định, trong đó thành phần dòng tiền có mức độ ổn định vượt trội so với thành phần dồn tích.
- Bổ sung bằng chứng về ảnh hưởng của BTD lên thành phần dòng tiền: Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu quốc tế trước đây (vốn chủ yếu xem xét dồn tích), luận án chứng minh BTD lớn làm suy giảm tính ổn định của cả thành phần dòng tiền lẫn dồn tích.
- Phát triển phương pháp phân nhóm nguyên nhân gây ra BTD: Luận án xây dựng quy trình phân loại thực nghiệm mới phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm tách biệt ba nguồn gốc gây BTD dương lớn: điều chỉnh lợi nhuận ($EM$), tránh thuế ($TAXAVOIDER$) và khác biệt chính sách thuần túy ($BASE$), đồng thời loại trừ được tác động gây nhiễu do thay đổi mức thuế suất thuế TNDN qua nhiều năm.
- Đánh giá tác động của thay đổi thể chế kế toán: Bằng việc so sánh hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019, luận án chứng minh sự ra đời của Thông tư 200/2014/TT-BTC đã làm cho thông tin BTD trở nên nhạy bén và phản ánh rõ nét hơn chất lượng lợi nhuận trên thị trường chứng khoán.
Đóng góp về mặt thực tiễn và hàm ý quản trị
- Đối với nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước):
- Cần hoàn thiện các quy định về công bố thông tin, yêu cầu doanh nghiệp thuyết minh chi tiết hơn về các khoản chênh lệch giữa kế toán và thuế, đặc biệt là các khoản mục thuế thu nhập hoãn lại và chi phí thuế TNDN hiện hành.
- Tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin dữ liệu giữa cơ quan quản lý thuế và cơ quan giám sát thị trường chứng khoán nhằm sớm phát hiện các hành vi thao túng lợi nhuận hoặc tránh thuế bất hợp pháp.
- Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ chuẩn mực kế toán Việt Nam hài hòa với Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).
- Đối với Kế toán trưởng và nhà quản lý doanh nghiệp:
- Nâng cao tính tuân thủ và thận trọng trong việc ghi nhận các ước tính kế toán và các khoản dồn tích; nhận thức rõ việc lạm dụng điều chỉnh lợi nhuận sẽ làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận trong tương lai và xói mòn niềm tin của thị trường.
- Cập nhật kiến thức chuyên môn về các chế độ kế toán mới và chính sách thuế để lập kế hoạch thuế hợp pháp mà không làm tổn hại đến chất lượng số liệu báo cáo tài chính.
- Đối với nhà đầu tư và các nhà phân tích tài chính:
- Không nên chỉ dựa vào con số lợi nhuận thuần trên báo cáo kết quả kinh doanh mà cần phân tách lợi nhuận thành thành phần dòng tiền và dồn tích khi dự báo lợi nhuận tương lai.
- Cần theo dõi chặt chẽ độ lớn của BTD; xem BTD lớn là tín hiệu cảnh báo về sự sụt giảm chất lượng lợi nhuận (nếu phát sinh do điều chỉnh lợi nhuận) hoặc đánh giá đúng tính ổn định của dòng tiền tích lũy từ hoạt động tránh thuế hợp pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung được tác giả công bố trong văn bản luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: Luận án loại trừ các công ty thuộc khối tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do có cơ chế lập báo cáo và quy định pháp lý đặc thù; do đó kết quả chưa mang tính đại diện cho toàn bộ nền kinh tế.
- Giới hạn thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở năm 2019 và chủ động không thu thập giai đoạn 2020–2021 nhằm tránh các biến động bất thường do cú sốc dịch bệnh Covid-19 làm sai lệch chuỗi số liệu kế toán.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu cập nhật dữ liệu giai đoạn hậu Covid-19 và giai đoạn Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn mực IFRS theo lộ trình của Bộ Tài chính.
- Đi sâu phân tích các thành phần chi tiết hơn của dòng tiền (dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, đầu tư, tài chính) và các khoản dồn tích đặc thù theo từng ngành nghề kinh doanh cụ thể.
- Nghiên cứu phản ứng thị trường và hệ số phản hồi lợi nhuận (ERC) đối với các nhóm nguyên nhân gây ra BTD khác nhau.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp 4 lý thuyết nền, phương pháp mô hình hóa dữ liệu bảng động, quy trình phân tách BTD, cũng như kỹ thuật xử lý khuyết tật mô hình bằng ước lượng FGLS trong nghiên cứu chất lượng lợi nhuận.
- Các nhà phân tích tài chính và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Vận dụng các phát hiện thực nghiệm về BTD và cấu trúc dòng tiền - dồn tích trong Chương 4 để xây dựng mô hình định giá, dự báo khả năng sinh lời và đánh giá rủi ro thông tin tài chính của doanh nghiệp niêm yết.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Ban soạn thảo chính sách: Sử dụng các kết quả so sánh trước và sau Thông tư 200 làm căn cứ thực tiễn để đánh giá tác động chính sách kế toán, định hướng hoàn thiện quy định minh bạch thông tin thuế và kế toán doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa và đo lường biến BTD như thế nào trong điều kiện thuế suất Việt Nam thay đổi?
Trong luận án, BTD được xác định là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế. Tác giả đã áp dụng phương pháp đo lường mới nhằm loại bỏ tác động gây nhiễu từ lộ trình thay đổi mức thuế suất thuế TNDN (từ 25% năm 2009 xuống 22% năm 2014 và 20% từ năm 2016), giúp phản ánh chính xác quy mô chênh lệch thực chất giữa hai hệ thống ghi nhận.
2. Kết quả kiểm định tính ổn định giữa thành phần dòng tiền và thành phần dồn tích tại Việt Nam cho thấy điều gì?
Kết quả hồi quy thực nghiệm trong Chương 4 khẳng định cả dòng tiền ($CF$) và các khoản dồn tích ($ACC$) đều có tính ổn định trong việc giải thích lợi nhuận tương lai ($Pt+1$). Tuy nhiên, hệ số hồi quy của dòng tiền luôn cao hơn đáng kể so với hệ số của các khoản dồn tích trong cả hai giai đoạn 2010–2014 và 2015–2019, chứng minh thành phần dòng tiền có tính ổn định vượt trội so với dồn tích.
3. Tại sao tác giả lại loại trừ dữ liệu năm 2020 và 2021 khỏi mẫu nghiên cứu?
Luận án loại trừ giai đoạn 2020–2021 vì đây là thời gian đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh tại Việt Nam, tạo ra môi trường kinh doanh bất lợi và các cú sốc tiêu cực bất thường làm sai lệch lợi nhuận và các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, có thể dẫn đến sai lệch kết quả nghiên cứu (bias results).
4. Ảnh hưởng của BTD lớn đến tính ổn định của lợi nhuận có sự khác biệt như thế nào sau khi áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC?
Trong giai đoạn 2010–2014, tác động của BTD lớn chưa thể hiện rõ nét. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2015–2019 khi áp dụng Thông tư 200, BTD càng lớn (cả chênh lệch dương lớn LPBTD và chênh lệch âm lớn LNBTD) thì tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần trong lợi nhuận càng suy giảm rõ rệt và có ý nghĩa thống kê.
5. Các nguyên nhân gây ra BTD dương lớn (LPBTD) tác động khác nhau ra sao đến tính ổn định của lợi nhuận?
Đối với nhóm công ty có LPBTD, nếu BTD phát sinh do hành vi điều chỉnh lợi nhuận tăng ($EM$) thì tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần suy giảm mạnh nhất. Ngược lại, nếu BTD phát sinh do hoạt động tránh thuế hợp pháp ($TAXAVOIDER$), lợi nhuận và các thành phần lại có xu hướng ổn định hơn so với nhóm công ty có BTD phát sinh từ các nguyên nhân khác ($BASE$).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Bảo Như là công trình nghiên cứu thực nghiệm định lượng toàn diện về tác động của chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế đến tính ổn định của lợi nhuận và các thành phần lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010–2019. Bằng phương pháp ước lượng FGLS trên dữ liệu bảng động, nghiên cứu đã chứng minh dòng tiền có tính ổn định cao hơn dồn tích, đồng thời chỉ ra BTD lớn làm suy giảm tính ổn định của lợi nhuận, đặc biệt trong thời kỳ áp dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC. Đóng góp nổi bật của luận án là đã phân tách và chỉ rõ tác động trái chiều giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận (làm giảm tính ổn định) và hành vi tránh thuế (làm tăng tính ổn định) trong nhóm doanh nghiệp có chênh lệch kế toán - thuế dương lớn, mang lại cơ sở khoa học xác thực cho các nhà quản lý, cơ quan hoạch định chính sách và nhà đầu tư.