phần mở đầu, kết luận - kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: 3 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa đƣờng bộ. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa đƣờng bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2017. Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa đƣờng bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2022. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ, QUẢN LÝ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH VẬN TẢI HÀNG HÓA ĐƢỜNG BỘ 1.
Những nội dung cơ bản về thuế, quản lý thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế Thuế là khái niệm ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nƣớc. Từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, cùng với sự phát triển qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm về thuế cũng không ngừng đƣợc hoàn thiện. Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đƣa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế.
Theo tác giả, “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp các khoản chi tiêu của nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã đƣợc bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện nhƣ sau: “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước”. Đứng trên các góc độ kinh tế, chính trị, xã hội, có nhiều khái niệm khác nhau về thuế. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau: Thứ nhất, trong xã hội hiện đại thuế là khoản đóng góp bằng tiền.
Về nguyên tắc, thuế là một khoản đóng góp dƣới hình thức tiền tệ, điều này trái ngƣợc với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trƣớc đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tƣợng nộp thuế đƣợc thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trƣờng. 5 Thứ hai, thuế là khoản đóng góp bắt buộc đƣợc thực hiện thông qua con đƣờng quyền lực chính trị. Dù đƣợc thực hiện dƣới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đƣợc thực hiện thông qua con đƣờng quyền lực nhà nƣớc (qua hệ thống pháp luật thuế).
Do đó, đối tƣợng nộp thuế bắt buộc phải tuân thủ các quy định pháp luật về kê khai, nộp thuế. Đối tƣợng nộp thuế không thể tự mình ấn định hay thoả thuận mức thuế mà phải chấp thuận mức thuế và thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật. Những đối tƣợng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cƣỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.
Thứ ba, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của nhà nƣớc. Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế đƣợc hoàn trả gián tiếp cho ngƣời nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp đƣợc thể hiện ở cả trƣớc và sau khi thu thuế. Trƣớc khi thu thuế, nhà nƣớc không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho ngƣời nộp thuế.
Sau khi thu thuế, nhà nƣớc cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho ngƣời nộp thuế. Cũng nhƣ vậy, ngƣời nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; không có quyền đòi hỏi đƣợc hƣởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Thuế đƣợc thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc, thuế không có đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không đƣợc quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều 6 đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nƣớc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc.
Khái niệm “chi tiêu của nhà nƣớc” ngày nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ bao gồm các chi phí liên quan đến chức năng duy trì bộ máy của nhà nƣớc để thực hiện các chức năng của nhà nƣớc, mà còn gồm các chi phí cho việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội. Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên hai góc độ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc và thuế vừa là công cụ giúp nhà nƣớc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế. Khái quát về tổ chức bộ máy quản lý thu thuế tại Việt Nam Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ), hệ thống thuế Nhà nƣớc đƣợc thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế đƣợc tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng; cơ quan thuế đặt tại địa phƣơng chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành Thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng cấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nƣớc có tƣ cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và đƣợc mở tài khoản tại Kho bạc nhà nƣớc.
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa đƣợc đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin và dịch vụ hỗ trợ ngƣời nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế. Trong quá trình thực thi, cùng với quá trình cải cách hành chính nhà nƣớc và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Tổng Cục Thuế cũng thƣờng xuyên 7 đƣợc sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển, yêu cầu cải cách hành chính, yêu cầu của công tác quản lý thuế và yêu cầu của hội nhập. CHÍNH PHỦ Bộ Tài chính UBND tỉnh, TP trực thuộc TW Tổng cục Thuế Cục thuế tỉnh, TP UBND quận, trực thuộc TW huyện Chi cục thuế quận, huyện Hình 1.
Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý thuế hiện hành (Nguồn: Cục thuế TP Hải Phòng) 1. Khái niệm và quy định về quản lý thuế hiện nay - Khái niệm: „Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế để ngày một nâng cao chất lƣợng cũng nhƣ hiệu quả thu cho Ngân sách nhà nƣớc, góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, nâng cao ý thức tự giác nộp thuế cho đối tƣợng nộp thuế và phải coi đó là bổn phận và trách nhiệm của đối tƣợng nộp thuế‟ [20, chƣơng 1, trang 7] 8 Quy trình quản lý thuế luôn gắn với quá trình nhà quản lý thuế (chủ thể quản lý) sử dụng các chức năng quản lý tác động tới khách thể quản lý (đối tƣợng nộp thuế) nhằm đạt đƣợc các mục tiêu quản lý. Các chức năng quản lý thuế bao gồm bốn nhóm cơ bản gắn với quy trình quản lý thuế bao gồm: Nhóm chức năng hoạch định nhƣ lập kế hoạch thuế, chuẩn bị điều kiện thực hiện; Nhóm chức năng tổ chức nhƣ tổ chức bộ máy, tổ chức nhân sự, ra quyết định, tổ chức hoạt động; nhóm chức năng chỉ đạo nhƣ hƣớng dẫn, phối hợp, điều chỉnh quá trình thực hiện kế hoạch thuế; nhóm chức năng kiểm tra bao gồm đo lƣờng, so sánh, đánh giá, cƣỡng chế thi hành, đúc rút kinh nghiệm, khen thƣởng, chuẩn bị cho chu kỳ quản lý tiếp theo. Chủ thể quản lý: Chủ thể trực tiếp là các tổ chức, cơ quan nhà nƣớc tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra quá trình dịch chuyển của dòng thuế, bao gồm: Bộ Tài chính, Tổng Cục thuế, Tổng cục hải quan, Kho bạc nhà nƣớc, Quốc hội, UBND, HĐND các cấp, Hội đồng tƣ vấn thuế xã phƣờng.
Chủ thể gián tiếp là các tổ chức, cơ quan nhà nƣớc tham gia gián tiếp vào quá trình hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra công tác đăng ký, kê khai, tính thu nộp, quyết toán và thanh, kiểm tra. Bao gồm: các cơ quan Nhà nƣớc có chức năng phối hợp với cơ quan thuế trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thuế, phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc quản lý thuế; tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, cơ quan có chức năng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm vi phạm pháp luật về thuế.; tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài nƣớc có liên quan đến công tác quản lý thuế.