CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ 1.1- Chuyển giá và tác động của chuyển giá 1.1- Khái niệm chuyển giá Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thể riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết. Để lợi ích tổng thể đạt tối ưu, các doanh nghiệp thường sử dụng công cụ chuyển giá, vì nó giúp họ giảm tổng nghĩa vụ thuế và từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ tăng. Chuyển giá đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra quyết định về tài chính của doanh nghiệp, bởi nó có khả năng điều chỉnh lợi nhuận, tạo luồng chảy của vốn đầu tư, tăng khả năng thanh toán.Vì vậy, chuyển giá là công cụ hữu ích của doanh nghiệp để tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường, tiết kiệm chi phí thuế, kiểm soát lưu chuyển tiền tệ và phân bổ các nguồn lực. Chuyển giá là vấn đề đụng chạm trực tiếp đến quyền thu thuế của mỗi quốc gia.
Thế giới đã từng xảy ra những chuyển giá điển hình, ví dụ: năm 1993, sau khi tiến hành điều tra, Mỹ đã ra phán quyết Công ty Nissan của Nhật Bản tránh thuế bằng cách định giá rất cao các loại xe nhập vào nước này. Kết quả, Nissan phải trả cho phía Mỹ khoản phạt 170 triệu USD. Để trả đũa cho “đòn” của Mỹ, một năm sau cơ quan thuế của Nhật Bản tố cáo Tập đoàn Coca- Cola khai lợi nhuận thu được thấp hơn do khai giá quá cao các loại nguyên liệu nhập từ Mỹ và áp đặt phí bản quyền rất cao cho các công ty con tại Nhật. Rốt cuộc, Coca-Cola cũng phải nộp 150 triệu USD tiền phạt.
Theo thông lệ quốc tế, chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển dịch giữa các thành viên trong 16 z tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu. Để làm được điều này, công ty đa quốc gia thường nắm bắt và vận dụng những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi trong quy định thuế để xây dựng và áp dụng một chính sách về giá giao dịch nội bộ trong tập đoàn. Theo đó, giá chuyển giao giữa các thành viên trong nội bộ tập đoàn có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch này. Cần phân biệt trường hợp chuyển giá với trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để nhằm mục đích trốn thuế.
Đối với trường hợp khai giá giao dịch thấp đối với cơ quan quản lý để trốn thuế nhưng các bên giao dịch vẫn thực hiện thanh toán đầy đủ theo giá thỏa thuận (tuy nhiên không thể hiện trên chứng từ, sổ sách kế toán); trong khi đó, nếu giao dịch bị chuyển giá, giá cả trong giao dịch chính là giá thỏa thuận nên các bên sẽ không phải thực hiện việc thanh toán khoản chênh lệch giữa giá giao dịch nội bộ và giá thị trường. Như vậy, chuyển giá là hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Sở dĩ giá cả có thể bị tác động trong những giao dịch liên kết là do: Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó, họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn; Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục; Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ.
Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do 17 z chính sách kinh tế - xã hội mỗi nước khác nhau, đồng thời, sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu, nên chênh lệch mức độ điều tiết thuế hoàn toàn có thể xảy ra. Chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể trong nhóm liên kết (các bên liên kết). Cơ sở để xác định mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể là yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn.
Đây chính là những điều kiện quyết định sự ảnh hưởng, sự giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể. Xét theo cơ sở này thì các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùng một quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau. Do đó, về nguyên tắc, chuyển giá không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc tế mà có thể cả trong những giao dịch trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế chuyển giá thường được tập trung vào các giao dịch quốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ hơn.
Đối với các quốc gia có chế độ ưu đãi thuế, các bên liên kết trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế bằng cách chuyển thu nhập từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ưu đãi hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết được hưởng ưu đãi cao hơn. Như vậy, chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết (các bên liên kết) không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của tất cả các bên liên kết đó.2- Tác động của chuyển giá 1.1- Tác động của chuyển giá đến tình hình tài chính của tập đoàn Chuyển giá là hành vi thực hiện chính sách chuyển giao sản phẩm (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, dịch vụ, vay, mượn vật tư, tiền vốn) giữa các thành viên của các tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường với mục đích tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế tính chung trong tập đoàn nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình dựa vào chính sách 18 z ưu đãi thuế hoặc quy định thuế suất của mỗi vùng, miền hay mỗi quốc gia khác nhau. Như vậy, khi thực hiện hành vi chuyển giá thành công, các tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia đã nâng được mức lợi nhuận của mình lên tương ứng với mức độ chuyển giá trong tập đoàn. Hành vi này đã tạo ra nguồn tài chính có thể giúp cho tập đoàn, công ty đa quốc gia dễ dàng thực hiện kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình.
Mặt khác, nó đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh, làm cho quá trình phá sản tại các công ty nhỏ lẻ, đơn nhất diễn ra nhanh hơn, dẫn tới việc độc quyền trong sản xuất, kinh doanh. Theo đó, tập đoàn, công ty đa quốc gia nào có mức độ thực hiện hành vi chuyển giá thành công lớn hơn (nghĩa vụ thuế thấp hơn) thì sẽ có lợi thế nhiều hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích do hành vi chuyển giá mang lại, tập đoàn kinh tế, công ty đa quốc gia có hành vi chuyển giá sẽ có nguy cơ phải gánh chịu những hình phạt rất nghiêm khắc nếu cơ quan thuế của các quốc gia mà tập đoàn kinh tế có đơn vị thành viên phát hiện hành vi chuyển giá làm giảm lợi nhuận trước thuế của các đơn vị thành viên này. Khi đó, các đơn vị thành viên ngoài việc phải nộp tiền phạt và tiền thuế tăng thêm, còn có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh, uy tín của tập đoàn trên thương trường quốc tế cũng bị giảm sút nghiêm trọng và là tâm điểm chú ý của cơ quan thuế tại các quốc gia có đơn vị thành viên khác.2- Tác động của chuyển giá đến nền kinh tế của mỗi quốc gia Do hành vi chuyển giá là hành vi tránh thuế để tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp tính chung cho cả tập đoàn, công ty đa quốc gia, nên số thuế tổng hợp của các quốc gia sẽ bị giảm đi tương ứng.
Tuy nhiên, hành vi này lại có tác động khác nhau đến số thu ngân sách của mỗi quốc gia. Các tập đoàn kinh tế xây dựng kế hoạch tránh thuế bằng cách chuyển toàn bộ hay một phần lợi nhuận trước thuế từ quốc gia có mức thuế suất cao sang quốc gia có mức 19 z thuế suất thấp, làm giảm thu nhập chịu thuế và số thuế phải nộp tại quốc gia có mức thuế suất cao, đồng thời làm tăng thu nhập chịu thuế và số thuế phải nộp tại quốc gia có mức thuế suất thấp. Từ các hành vi điều chỉnh lợi nhuận và số thuế phải nộp này, tác động vĩ mô của chuyển giá đến nền kinh tế của quốc gia có thể được phân tích từ phía quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư và quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư như sau: a- Đối với quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư Hoạt động chuyển giá diễn ra dưới dạng định giá cao các yếu tố đầu vào nhằm rút ngắn thời gian thu hồi vốn của công ty mẹ, dẫn đến các luồng vốn có xu hướng chảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư. Hành vi chuyển giá này sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư, dẫn tới sự phản ánh sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, tạo ra một bức tranh kinh tế không trung thực.
Trường hợp, quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư có mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc loại thuế tương đương với thuế thu nhập doanh nghiệp thấp (thiên đường thuế) có lợi thế về số thu thuế thông qua chuyển giá. Tuy nhiên, lợi thế này không bền vững khi mà các quốc gia khác có liên quan tăng cường các biện pháp quản lý về giá chuyển nhượng. Đây là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng kinh tế tại các thiên đường thuế này.