Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và quản ly thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại Công ty TNHH Quế Lâm Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại các Doanh nghiệp và Công ty TNHH Qué Lâm. CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE THUÊ GIA TRI GIA TANG VA QUAN LY THU THUE GIA TRI GIA TANG DOI VOI DOANH NGHIEP 1. Cơ sở lý luận về thuế giá tri gia tăng 1. Lịch sử hình thành và phát triển của thuế giá trị gia tăng Thuế ra đời và phát triển cùng với sự hình thành và tồn tại của Nha nước gắn với nền sản xuất hàng hóa.
Do vậy, khi năng suất của người lao động tăng lên kéo theo sự tăng trưởng của nền kinh tế. Lúc này nhu cầu chi tiêu của cả Nhà nước và người tiêu dùng được kích thích tăng, để có được nguồn thu nhằm chi cho nhu cầu chỉ tiêu đó đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp áp vào các loại thuế trong hệ thống thuế. Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra vào năm 1914 — 1918 làm cho cầu về lương thực và vũ khí của các Chính phủ tăng mạnh. Nhằm đáp ứng nhu cầu này, vào năm 1917, Pháp là một trong những quốc gia áp dụng đầu tiên thuế doanh thu.
Ở Việt Nam, ngày 12/12/1972, Miền Nam đã áp dụng sắc thuế 035 — TT/SLU — đây cũng chính là cơ sở cho sự ra đời thuế GTGT tại nước ta. Năm 1990, Chính phủ ban hành Luật thuế doanh thu song hành với Luật thuế TTĐB và Luật thuế lợi tức.Sau khi thi hành ba luật này, Quyết định số 486TC/QD/BTC về việc áp dụng thí điểm thuế GTGT tại một vài doanh nghiệp thuộc sở hửu Nhà nước mang những đặc điểm nhất định, được Bộ Tài chính chính thức ban hành ngày 05/07/1993. Tại kỳ hop thứ 11 năm 1997, Quốc hội khoá IX đã cùng nhau thống nhất ban bố Luật thuế GTGT trên nên tang cải tiến nhưng vẫn giữ nguyên một số ưu điểm của Luật thuế doanh thu. Từ đó đến nay, vào các năm 2000, 2003, 2005, Luật này đã nhiều lần được điều chỉnh, sửa đổi và bố sung sao cho phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế.
Năm 2008, Quốc hội ban hành Luật thuế GTGT (hiệu lực từ 01/01/2009), đây hiện tại là luật đang có hiệu lực. Thông qua Nghị định được ban hành bởi Chính phủ và Thông tư ban hành bởi Bộ Tài Chính, NNT có thê nắm được những quy định cụ thể về việc làm sao để áp dụng vào hoạt động SXKD của minh. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Giá trị gia tăng (GTGT) là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12: Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Dựa theo khái niệm trên, người sản xuất cung ứng HHDV có trách nhiệm thu hộ, đồng thời nộp hộ người tiêu ding. Người tiêu dùng mua sản phẩm đã có thuế GTGT, vì vậy người tiêu dùng là người phải chịu thuế GTGT. Có thé dé dàng nhận thay rang các khái niệm đều dé cập đến ban chất của thuế GTGT là tính thuế dựa trên phần giá tri tăng thêm được tạo ra (GTGT) trong quá trình SXKD (SXKD). Vì vậy có thé hiểu: Thuế GTGT là loại thuế được tính dựa vào phan giá tri tăng lên so với giá tri trước đó của HHDV và được sinh ra khi thực hiện các khâu từ sản xuất, trao đôi HHDV đến khâu tiêu dùng.
Vấn đề mau chốt là làm sao dé xác định được phan tăng thêm so với trước đó ở mỗi giai đoạn SXKD, khi xác định được rồi thi mới tính được tông số thuế GTGT trong từng giai đoạn đó một cách chính xác nhất. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là loại thuế mang các đặc điểm sau đây: Thuế GTGT là loại thuế gián thu. Đặc điểm này được biểu hiện cụ thé như sau: người tiêu dùng HHDV là người phải trả thuế GTGT qua giá bán đã bao gồm thuế GTGT. Nhưng thay vì nộp số thuế này trực tiếp vào NSNN, người mua sẽ trả thuế thông việc thanh toán cho người bán giá đã bao gồm thuế.
Người bán sau đó sẽ thay người tiêu dùng thực hiện thao tác nộp khoản thuế GTGT này vào NSNN. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng ở nhiều giai đoạn. Như đã phân tích ở phần trên, thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh trong các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng HHDV đó. Vì vậy, bất cứ trong giai đoạn nào làm tăng giá trị HHDV đều phát sinh thuế GTGT.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập. Tinh chất này thể hiện thuế GTGT không phân biệt người có thu nhập thấp hay thu nhập cao phải chịu thuế, bất cứ người tiêu dùng nào tiêu thụ một HHDV như nhau thì đều phải chịu và phải trả thuế GTGT giống nhau. Do đó, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế GTGT so với thu nhập sẽ càng giảm.
Về phạm vi đánh thuế: Điểm đến là nguyên tắc được đề cập trong trường hợp này, cụ thé là thuế được đánh vào tat cả HHDV ở nơi cư trú của người tiêu dùng. Vậy nên, Thuế GTGT chỉ đánh vào các HHDV được tiêu trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào các HHDV tiêu dùng ngoài lãnh thé. Tại sao Chính Phủ ban hành luật thuế giá trị gia tăng? Chức năng quản lý nền kinh tế vĩ mô được thực hiện không thé không ké đến vai trò của Thuế. Cơ chế thị trường được Nhà nước chủ trương thực hiện nhằm phát huy vai trò đầu tàu, dẫn dắt của nền kinh tế tư nhân, vai trò của thuế GTGT trong giai đoạn này so với bồi cảnh kinh tế thời gian trước là rất quan trọng.
Thuế GTGT là một trong những khoản đóng góp quan trọng của NSNN. NSNN nhờ có thuế GTGT mà số thu được luôn ổn định. Theo đà tăng trưởng kinh tế, quy mô các hoạt động kinh doanh của các chủ thể ngày càng mở rộng, điều này có tác động tích cực đến cả cung và cầu hàng hóa, góp phần tạo ra nguồn thu về thuế GTGT lớn cho NSNN. Thuế GTGT chỉ đánh trên phan giá tri tăng thêm của HHDV, không đánh trên phan giá trị trùng lặp của các HHDV như thuế doanh thu nên khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư vốn dé SXKD, tạo động lực nâng cao năng suất nhờ có sự chuyên biệt đầu việc và kết hợp cùng làm khi SXKD.
Từ đó góp phan nâng cao hiệu quả SXKD và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, thúc đây tăng trưởng kinh tế. Nhờ có quy định áp dụng thuế suất 0% đối với doanh nghiệp xuất khẩu HHDV, các doanh nghiệp xuất khẩu HHDV vừa được khấu trừ số GTGT đã nộp ở khâu đầu vào và không phải chịu thuế GTGT ở khâu đầu ra. Điều này đã tạo điều điện cho các doanh nghiệp xuất khẩu giảm được chi phí sản xuất sản phẩm, nhờ vậy mà giá bán các HHDV thấp hơn tương đối so với hàng hóa của quốc gia khác, vô hình chung thúc day 9 xuất khẩu làm tăng kim ngạch xuất khẩu va nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường quôc tê. Thúc đây việc thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán kế toán; Lúc này, doanh nghiệp muốn được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào khi áp dụng phương pháp khấu trừ thì doanh nghiệp phải sử dụng HDCT day đủ và minh bạch, góp phan tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.
Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị gia tăng 1. Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế GTGT là HHDV dùng cho SXKD và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả HHDV mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT. Đối tượng không chịu thuế là những HHDV có các đặc điểm: - Là những HHDV có tính chất thiết yếu. - Các hoạt động mang mục đích xã hội, vì con người.
- Của một số ngành được Nhà nước khuyến khích phát triển. - Nhập khẩu nhưng không tiêu dùng tại Việt Nam. - Khó xác định giá trị tăng thêm. Người nộp thuế Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghé, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT.
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng Căn cứ dé tính thuế GTGT là Giá tính thuế và Thuế suất. Thuế GTGT = Giá tính thuế GTGT * Thuế suất thuế GTGT. 10 Trong đó: *Giá tính thuế GTGT: Là giá tính thuế được quy định cụ thể cho từng loại HHDV, hàng hóa nhập khâu, hàng hóa dùng đếtrao đổi và sử dụng nội bộ hay đối với hoạt động cho thuê tài sản. Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề, Em xin đề cập đến giá tính thuế được quy định trong một số trường hợp như sau: - Đối với HHDV do cơ sở SXKD bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT.
Đối với HHDV chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. - Đối với hàng hóa nhập khâu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng (+) với thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khâu. - Đối với sản phẩm, HHDV (ké cả mua ngoài hoặc do CSKD tự sản xuất) dùng để trao đổi, biếu, tặng, cho, trả thay lương, là giá tính thuế GTGT của HHDV cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh các hoạt động này.
- Đối với xây dựng, lắp đặt, là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bản giao chưa có thuế GTGT. *Thué suất: Hiện nay, CQT đang áp dụng đối với HHDV 03 mức thuế suất lần lượt là: 0%, 5%, 10%.