CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHẾ ĐỘ, CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM 1.1 Tổng quan chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam: 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển: 1.1 Lịch sử hình thành kế toán: Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện hoạt động mua bán con người đã có nhu cầu ghi chép lại các chi tiết của giao dịch. Việc ghi chép thời đó tuy đơn giản nhưng nó chính là tiền đề cho việc hoàn thiện phương pháp ghi chép kế toán. Theo thời gian đã có những phát triển về phương pháp ghi chép để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ.2 Vài nét quá trình phát triển của kế toán thế giới: Theo các tài liệu nghiên cứu về lịch sử kế toán, kế toán xuất hiện từ thời cổ đại. Thung lũng Mesopotamia được xem là nơi xuất hiện những ghi chép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán.
Thời kỳ này công việc kế toán khá đơn giản. Khi một giao dịch xảy ra, kế toán cần ghi chép các nội dung như tên của các bên tham gia giao dịch, loại hàng hoá, giá cả và các cam kết quan trọng khác. Việc ghi chép được thực hiện trên đất sét sau đó hong khô để lưu trữ. Lúc đó kế toán đã được xem là một nghề nghiệp.
Ở Ai Cập cổ đại thì kế toán được ghi chép trên giấy cói và được lưu trữ vào kho sau khi được kiểm tra, soát xét nội bộ. Thời này người ghi chép cũng có thể bị xử phạt nếu ghi chép không đúng các giao dịch. Kế toán Ai Cập cổ đại cũng chỉ dừng lại ở hình thức ghi chép liệt kê mô tả đơn giản trong suốt thời kỳ tồn tại của nó, có lẽ là do tình trạng mù chữ và thiếu đồng tiền giao dịch thích hợp. Vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã sáng tạo ra tiền kim loại.
Hệ thống ngân hàng phát triển. Điều này tác động rất lớn đến sự phát triển của kế 123doc 5 toán bởi hai trong bảy điều kiện hình thành phương pháp ghi chép có hệ thống của kế toán đó là việc hình thành tiền tệ và việc hình thành các quan hệ tín dụng. Theo Đoàn Quang Thiệu (2008), thời kỳ trung đại đánh dấu một bước ngoặt lớn về sự phát triển của kế toán, đó là sự ra đời của phương pháp ghi sổ kép mà cha đẻ của nó là một nhà tu dòng Franciscain tên là Luca Pacioli. Ông viết phương pháp ghi sổ kép khởi nguồn từ một bản thảo có mô tả ngắn gọn nhiều đặc tính của kế toán kép của Benedetto Cotrugli.
Năm 1494, Pacioli đã cho xuất bản một cuốn sách với nội dung là một bản tóm lược và kiến giải về toán học, kế toán chỉ là một trong số năm đề mục được đề cập đến với 36 chương. Pacioli đưa ra hệ thống gồm các thành phần bản ghi, nhật ký, sổ cái. Cuối kỳ kế toán thực hiện bảng cân đối thử. Thời kỳ này kế toán đã đóng vai trò cung cấp thông tin tài chính cho Nhà nước và chủ doanh nghiệp.
Đến thế kỷ 19, kế toán đã phát triển thành một nghề mang tính xã hội hoá và chuyên nghiệp hoá, các hiệp hội kế toán đã được hình thành. Năm 1880 là Hiệp hội kế toán Anh và xứ Wales với số lượng thành viên ban đầu là 587 người và sau đó kết nạp thêm 606 thành viên mới. Năm 1887 là Hiệp hội kế toán Mỹ, tiền thân của Hiệp hội Kế toán có giấy chứng nhận hành nghề Mỹ. Sang thế kỷ 20, với những thay đổi, phát triển về kinh tế, kế toán đã từng bước được hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ.
Kế toán đã dần tách biệt thành hai hệ thống là kế toán tài chính cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng bên ngoài và kế toán quản trị cung cấp thông tin mang tính chất nội bộ cho người quản lý. Đây cũng là kỷ nguyên đánh dấu sự ra đời của chuẩn mực kế toán quốc tế. Khái niệm kế toán quốc tế đã xuất hiện, kế toán không còn nằm trong khuôn khổ một quốc gia nữa mà đã mở rộng ra môi trường toàn cầu. Từ đó đến nay, Chuẩn mực kế toán quốc tế đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế thế giới đổi mới và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, tính đến cuối năm 2008 đã có trên 100 quốc gia.3 Quá trình phát triển của kế toán Việt Nam: 1.1 Giai đoạn từ năm 1954 trở về trước: Thời kỳ trước, hình thức manh nha của kế toán Việt Nam là việc ghi chép mang tính liệt kê tài sản gia đình, để người chủ gia đình nắm được tình hình tài sản của mình.
Đến khi thực dân Pháp vào xâm chiếm nước ta, đi cùng với chính sách bóc lột là việc xây dựng các nhà máy, đồn điền và ở đó kế toán xuất hiện.2 Giai đoạn từ năm 1954 - 1975: Đây là thời kỳ đánh dấu sự bắt đầu phát triển thực sự của kế toán Việt Nam với việc ban hành chế độ kế toán kép áp dụng thí điểm trong các xí nghiệp thuộc ngành công nghiệp và xây dựng vào năm 1957. Hệ thống tài khoản kế toán được xây dựng để áp dụng chung cho tất cả các ngành theo Quyết định số 425-TC/CĐKT ngày 14/12/1970. Nhưng chế độ báo cáo lại được quy định riêng cho từng ngành, các đơn vị kinh tế thuộc ngành nội thương áp dụng chế độ báo cáo thống kê, kế toán định kỳ theo Quyết định số 299/TTg ngày 27/10/1971; các xí nghiệp công nghiệp thì áp dụng theo Quyết định số 233/CP ngày 01/12/1970. Tổng Cục thống kê cũng ban hành Quyết định số 212-TCKT ngày 03/11/1971 quy định chế độ báo cáo thống kê kế toán định kỳ đối với các đơn vị công ty, cửa hàng, thương nghiệp đã hạch toán kinh tế độc lập thuộc Bộ Nội thương quản lý.
Như vậy có thể thấy thời kỳ này kế toán và thống kê đi đôi với nhau, có phân biệt trong chế độ báo cáo giữa các ngành, kế toán chủ yếu phục vụ cho quản lý Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế quốc doanh.3 Giai đoạn từ năm 1975 - 1995: Sau ngày thống nhất đất nước, cả nước tập trung vào phát triển kinh tế ổn định xã hội, kế toán cũng có những bước chuyển mình rõ rệt. Nhà nước liên tục sửa đổi, bổ sung các quy định về kế toán cho phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội mới. Ngày 20/05/1988, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh kế toán và thống kê áp dụng chung trong 123doc 7 nền kinh tế quốc dân. Hệ thống tài khoản kế toán đã được xây dựng mới theo Quyết định số 212-TC/CĐKT ngày 15/12/1989, sau đó được thay thế bởi Quyết định số 1205- TC/CĐKT ngày 14/12/1994.
Ngày 18/04/1990, Bộ Tài Chính ban hành Quyết định 224-TC/CĐKT quy định chế độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng thống nhất cho xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. Đến 14/12/1994, chế độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng chung cho các ngành nghề được ban hành theo Quyết định số 1206-TC/CĐKT. Có thể thấy thời gian đầu của giai đoạn này là nền kinh tế bao cấp, các thành phần kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà giữ thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh. Các quy định kế toán còn có sự phân biệt giữa các ngành nghề.
Từ năm 1991 đến năm 1994, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa phát triển đã tác động lớn đến kế toán. Lúc này đã có sự thống nhất về kế toán cho các ngành nghề, tuy nhiên vẫn còn sự phân biệt giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh. Đây cũng là mốc thời gian cho sự xuất hiện của hoạt động kiểm toán độc lập giúp hỗ trợ kế toán phát triển. Năm 1991, Bộ Tài Chính thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên, và năm 1992 công ty kiểm toán nước ngoài đầu tiên đã được cấp phép hoạt động tại Việt Nam là Ernst & Young.4 Giai đoạn 1995 đến nay: Giai đoạn này kinh tế Việt Nam phát triển mạnh, hòa nhập với kinh tế thế giới.
Công tác kế toán được chú trọng đúng mức nhằm cung cấp các thông tin kinh tế tài chính hữu ích. Lúc này Nhà nước ban hành các quy định mang tính bao quát hơn, nhiều vấn đề được đưa vào cùng một văn bản pháp luật chứ không phải bằng nhiều văn bản rời rạc như trước đó. Chế độ kế toán doanh nghiệp được ban hành theo Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 quy định cả hệ thống tài khoản, hệ thống báo cáo tài chính, chế độ sổ sách và chế độ chứng từ kế toán. Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được ban hành theo Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1997.
Mặc dù vậy, hệ thống kế toán nói trên vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của các 123doc 8 quy định về thuế; ví dụ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vẫn dành riêng hai mục cung cấp số liệu về thuế của doanh nghiệp. Thời kỳ mở cửa nền kinh tế đất nước, kế toán cũng không còn phát triển một cách đơn lẻ mà đã có hệ thống và liên kết với thế giới. Năm 1996, Hội kế toán Việt Nam (VAA) ra đời và trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng như là thành viên của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA). Việt Nam cũng tiếp cận và nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế.
Năm 1999, bắt tay vào soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam dựa trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế. Đến tháng 12/2001, bốn chuẩn mực kế toán Việt Nam đầu tiên được ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 gồm các chuẩn mực số 02, 03, 04 và 14. Nhưng mãi đến ngày 09/10/2002, Bộ Tài Chính mới ban hành thông tư số 89/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện bốn chuẩn mực này. Tiếp đến ngày 31/12/2002, các chuẩn mực số 01, 06, 10, 15, 16 và 24 được ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC.
Thông tư hướng dẫn sáu chuẩn mực này được ban hành vào ngày 04/11/2003, số 105/2003/TT-BTC. Đợt 3 ban hành tiếp sáu chuẩn mực gồm các chuẩn mực số 05, 07, 08, 21, 25 và 26 theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003. Ngày 30/05/2005, Bộ Tài Chính ban hành thông tư hướng dẫn số 23/2005/TT-BTC. Ngày 15/02/2005, ban hành sáu chuẩn mực kế toán đợt 4 gồm các chuẩn mực số 17, 22, 23, 27, 28 và 29 theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC.
Thông tư hướng dẫn Quyết định này số 20/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006. Đến ngày 28/12/2005, 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam chính thức được hoàn thành với việc ban hành bốn chuẩn mực còn lại là chuẩn mực số 11, 18, 19 và 30 theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC.