CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN cứu 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến tuân thủ về thuế Tuân thủ thuế trở thành vấn đề quan trọng được CQT, nhà kinh tế học, các tác giả nghiên cứu, nhà điều hành DN và người NT quan tâm. Vì vậy, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam tập trung xem xét các khía cạnh lý luận và thực tiễn của tuân thủ thuế. Một số công trình tiêu biểu như: 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến tuân thủ vể thuế Theo Fischer & cộng sự (1992) trong nghiên cứu xác suất phát hiện và sự tuân thủ thuế của người NT của mình đã phân các nhân tố thành 4 nhóm chính trong mô hình tuân thủ thuế và nó đã trở nên rất nổi tiếng. Bốn nhóm này bao gồm: hệ thống chính sách về thuế (phần trăm TS, tiền phạt, khả năng phát hiện, sự phức tạp của hệ thống), thái độ nhận thức (giá trị đạo đức của người NT và sự công bằng), cơ hội trốn thuế (thu nhập, nghề nghiệp), các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giáo dục).
Nghiên cứu của OECD (2004) cho rằng cần phải quản lý thu thuế và đẩy mạnh về tuân thủ thuế. Có hai phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu như sau: một là từ sự hợp lý về mặt kinh tế bằng cách áp dụng phân tích kinh tế, hai là phân tích các vấn đề về hành vi dựa trên các khái niệm (tâm lý học, xã hội học). Nghiên cứu đã chỉ ra các biến số ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của DN gồm: - Hồ sơ DN như: cơ cấu DN, quy mô của DN, loại hình hoạt động, thị trường hoạt động, số liệu tài chính, trung gian kinh doanh. - Thành phần ngành như: quy mô ngành, các đối tác trong ngành, tỷ lệ lãi, cơ cấu chi phí, các điều tiết của ngành, mức độ cạnh tranh, các yếu tố mùa vụ.
- Thành phần xã hội học như: chuẩn mực văn hóa, trình độ giáo dục, tuổi, giới tính, thái độ với cơ quan NN. - Thành phần kinh tế như: HHT, chính sách, lạm phát, thị trường. 7 - Thành phần tố tâm lý như: sự công bằng, hành vi trốn thuế, tham lam. Một nghiên cứu khác của Ronald & cộng sự (2005) về ảnh hưởng của tinh thần thuế đối với việc tuân thủ thuế cho thấy tuân thủ thuế là môt vấn đề phức tạp và việc điều tra nó đòi hỏi sử dụng nhiều phương pháp và nguồn dữ liệu khác nhau.
Kết quả từ thực nghiệm được thực hiện ở các quốc gia khác nhau chứng minh rằng luôn có sự không cân xứng trong mức độ tuân thủ, nó xuất phát từ sự khác biệt về công bằng trong quản lý thuế và trong thái độ tổng thể đối với các Chính Phủ tương ứng. Palil (2010) chỉ ra rằng yếu tố kiến thức thuế quyết định tuân thủ thuế trong hệ thống tự đánh giá ở Malaysia. Hệ thống tự đánh giá đã trở thành phương pháp quản trị quan trọng cho thuế cá nhân và DN ở các nước phát triển bao gồm Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Châu úc. Kết quả chỉ ra rằng, kiến thức về thuế có tác động đáng kể đến việc tuân thủ thuế mặc dù mức độ hiểu biêt về thuế khác nhau đáng kể giữa những người được hỏi.
Bên cạnh đó, tuân thủ thuế còn chịu tác động bởi tần suất được kiểm toán, hình phạt, chi tiêu của quốc gia, tài chính cá nhân. Nghiên cứu này đã trả lời những câu hỏi như: điểm khác nhau của người NT về trang bị kiến thức thuế, có sự thông báo cho các nhà hoạch định chính sách về mức độ quan trọng của kiến thức thuế trong hệ thống tự đánh giá và nó có ảnh hưởng đến sự tuân thủ theo những cách nào. Nó cung cấp giải pháp cho các nhà quản lý thuế hiểu rõ tầm quan trọng của kiến thức thuế trong việc hỗ trợ thiết kế tổ chức các chương trình hướng dẫn thuế, tối ưu HTT và hiểu biết rộng hơn về tâm lý của người NT. Nicoleta (2011) đã tiến hành tổng hợp, phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đến sự tuân thủ thuế của nhiều quốc gia.
Đồng thời, đánh giá sự phù hợp của các yếu tố xây dựng được mô hình các nhân tố ảnh hưởng. Theo tác giả, các nhân tố có ý nghĩa khá quan trọng có tác động sự tuân thủ thuế được phân hai nhóm: nhóm kinh tế và nhóm phi kinh tế.1 Mô hình tuần thủ thuế của Nicolet a (Nguồn: Nicole ta (201 ỉ)) Bên cạnh đó, Li tin & Palivos (2013) đã thực hiện nghiên cứu về tham nhũng và trốn thuế, bi kịch tại Hy Lạp. Nghiên cứu đã chõ thấy vòng luần quấn cùa tệ nạn tham nhũng chính trị và gian lận thuế từ sự có đi có lại trong các hoạt động tham nhũng. Bi kịch Hy Lạp là sự liên quan đến cả hai van đề này với hai nhóm riêng biệt là công dân và chính trị gia.
Công dân tự quyết định phần thu nhập mà họ khai báo vói CQT. Còn các chính trị gia quyết định phần nhỏ của ngân sách công cộng mà họ đật ra. Điều này gây ra tình trạng mat can bang và tạo tiền đề cho sự tham nhũng rat lớn đến sự tuân thủ về thuế. 9 Trong một nghiên cứu khác của Tusubira & Nkote (2013) về sự tuân thủ thuế thu nhập DN của các DN nhỏ và vừa tại Uganda.
Nghiên cứu đã thực kiểm đánh giá mối quan hệ giữa hiểu biết về thuế thu nhập và sự tuân thủ thuế. Áp dụng nghiên cứu định lượng, thu thập được 377 mẫu kết luận rằng thông thạo thuế có sự tác động đáng kể đến sự tuân thủ thuế của DN. Sự thông thạo về thuế xuất phát từ các yếu tố như: am hiểu về các quy định của thuế, kỹ năng quản trị kinh doanh, kỹ năng hoạch định thuế. Vì vậy, để ngân cao tuân thủ thuế cần giáo dục chuyên sâu về kiến thức thuế, nhân viên các DN phải được đào tạo bày bản về thuế.
Cùng quan điểm trên, Nzioki & Peter (2014) đã thực hiện phân tích các yếu tố ảnh hưởng tại thị trấn Nakuru Town của Kenya về tuân thủ thuế ở lĩnh vực bất động sản. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, với cỡ mẫu là 271 được lấy từ các chủ DN bất động sản, các dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi. Kết quả cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế. Trong đó, sự giáo dục về thuế có ảnh hưởng cao nhất, góp phần thúc đẩy sự tuân thủ thuế, tiền phạt thuế có mức tác động đáng kể trong việc xây dựng hệ thống các quy định thuế, TS và tiền phạt công bằng sẽ góp phần cải thiện việc tuân thủ thuế.
Ngoài ra, cơ hội gian lận sự tuân thủ về thuế có xu hướng ngày càng tăng, bất kể những người thực hiện có ý định tuân thủ hay không.2 Mô hình tuân thủ thuế của Nzioki & Peter (Nguồn: Nzioki & Peter (2014)) Chebusit & cộng sự (2014) đã thiết lập mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của DN VVN. Mức tuân thủ vốn là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến nguồn thu thuế không chỉ làm suy yếu hạ tầng quản lý thuế mà còn làm cho cơ sở thuế bị thu hẹp và thiếu công bằng. Mục đích chính nghiên cứu là xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố: CPTT, tiền phạt và thái độ của người NT. Áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cỡ mẫu 132 người, phân tích bằng SPSS áp dụng cả phân tích mô tả và suy luận.
Kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực của CPTT, hình phạt và thái độ với việc tuân thủ thuế. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng HTT nên rõ ràng và đơn giản về cách khai thuế, tăng cường các dịch vụ hỗ trợ người NT, nên có mức phạt vừa phải để các DNWN tuân thủ vì họ sẽ lưu giữ hồ sơ chính xác cho mục đích thuế để tránh bị phạt. Trong một khía cạnh khác, Jayawardane (2015) cho rằng không tuân thủ thuế là một thách thức nghiêm trọng đối vói công tác quản lý thuế và cản trở hiệu quả thu thuế. Một số yếu tố trở thành nguyên nhân chính yếu dẫn đến việc tuân thủ thấp trong quản lý thuế thu nhập ở bất kỳ tổ chức doanh thu nào ở bất kỳ quốc gia nào.
Phân 11 tích bởi các nhà nghiên cứu khác nhau cho thấy, yếu tố tâm lý có ảnh hưởng các quyết định về tuân thủ thuế và được nhấn mạnh. Tuy nhiên, thái độ của ngưòi NT đã được xác định là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chứng minh rằng tác động của một số lưọng lón các yếu tố tiềm năng quyết định sự tuân thủ như; các chuẩn mực xã hội, sự công bằng, nhận thức về chính trỊ/chính phủ và trách nhiệm giải trình đối vói thái độ tuân thủ thuế. Đồng quan điểm với Nzioki & Peter (2014) thi King’oina (2016) với mục tiêu xây dựng các nhân to ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế GTGT giữa các công ty xây dựng ở Kenya.
Dùng phưong pháp nghiên cứu hỗn họp vói kết quả khảo sát đến từ 164 DN về mức độ tác động của từng nhân tố đến sự tuân thủ thuế. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng rằng CPTT thuế GTGT là một yếu tố chính được người NT xem xét có tuân thủ luật thuế hay không. Việc áp dụng các khoản phạt, hình phạt có hiệu quả quan trọng trong việc cải thiện tốt hon tuân thủ thuế.3 Mô hình tuân thủ thuế của King’oina (Nguồn: King’oina (2016)) 12 Nghiên cứu xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của các DNWN với thuế thu thập DN tại Indonesia của Inasius (2018). Áp dụng phương pháp hồi quy với 6 yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế được kiểm tra, dữ liệu thu thập từ cuộc khảo sát với 328 người trả lời thông qua bảng câu hỏi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: xác suất bị kiểm tra thuế, kiến thức về thuế, nhận thức về tính công bằng, nhóm tham khảo có ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế. Trong đó, hành vi không tuân thủ thuế của DN bị ảnh hưởng mạnh bởi nhân tố nhóm tham khảo. Từ đó, các nhà kinh tế hoạch định xây dựng CST tập trung vào tuân thủ thuế nhiều hơn. Tương tự, Abd Hamid & cộng sự (2019) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố có tác động đến sự tuân thủ thuế của các DNWN trong kinh doanh thương mại điện tử tại Malaysia.