Nghiên cứu chi tiết về ảnh hưởng của chế độ sấy đến chất lượng hạt mắc ca

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ sấy đến chất lượng hạt mắc ca, phân tích kỹ thuật sấy tối ưu nhằm đảm bảo giá trị dinh dưỡng và hương vị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

101
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu của đề tài

1.2. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.2.1. Phạm vi nghiên cứu

1.2.2. Giới hạn

1.3. Nội dung nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.5. Bố cục của báo cáo

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan về hạt mắc ca

2.1.1. Nguồn gốc

2.2. Phân loại mắc ca

2.3. Tình hình mắc ca trong và ngoài nước

2.4. Tình hình mắc ca trên thế giới

2.5. Tình hình chế biến mắc ca ở Việt Nam

2.6. Thành phần dinh dưỡng

2.7. Ứng dụng của hạt mắc ca

2.8. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về công nghệ chế biến mắc ca

2.8.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.8.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.9. Tổng quan về sấy

2.10. Ảnh hưởng của chế độ sấy đến chất lượng hạt mắc ca

2.11. Công dụng thực phẩm sấy

2.12. Những vấn đề về chất lượng hạt mắc ca

3. CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nguyên liệu, dụng cụ và hóa chất

3.2. Xử lý nguyên liệu

3.3. Bố trí thí nghiệm

3.4. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu của hạt mắc ca

3.4.1. Chỉ tiêu hàm lượng ẩm của hạt

3.4.2. Quy trình thực hiện

3.4.3. Chỉ tiêu hàm lượng đường tổng

3.4.4. Quy trình thực hiện

3.4.5. Chỉ tiêu hàm lượng chất béo tổng

3.4.6. Quy trình thực hiện

3.4.7. Chỉ tiêu chỉ số Peroxide

3.4.8. Quy trình thực hiện

3.4.9. Chỉ tiêu độ cứng

3.4.10. Chỉ tiêu đo màu

3.4.11. Chỉ tiêu hàm lượng protein

3.4.12. Quy trình thực hiện

3.4.13. Chỉ tiêu hàm lượng tro

3.4.14. Quy trình thực hiện

3.4.15. Chỉ tiêu đánh giá cảm quan

3.5. Phương pháp xử lý số liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả chỉ tiêu độ ẩm của hạt mắc ca

4.2. Tỷ lệ hạt tách bị nứt vỏ sau sấy và tỷ lệ hạt có nhân tách khỏi vỏ

4.3. Kết quả độ cứng của nhân mắc ca

4.4. Kết quả về các chỉ số màu sắc của nhân mắc ca

4.5. Kết quả chỉ tiêu hàm lượng đường tổng của hạt mắc ca

4.6. Kết quả chỉ số peroxide của hạt mắc ca

4.7. Kết quả đánh giá cảm quan của hạt mắc ca

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Chế độ sấy và chất lượng hạt mắc ca

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của chế độ sấy đến chất lượng hạt mắc ca, đặc biệt là các chỉ tiêu dinh dưỡng và cảm quan. Chế độ sấy được khảo sát ở các mức nhiệt độ 60°C, 80°C và 100°C với thời gian sấy từ 2 đến 8 giờ. Kết quả cho thấy nhiệt độ và thời gian sấy ảnh hưởng đáng kể đến độ ẩm, độ cứng, màu sắc và chỉ số peroxide của hạt. Phương pháp sấy đối lưu được sử dụng để đảm bảo sự đồng đều trong quá trình sấy. Nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa quy trình sấy để duy trì chất lượng sản phẩm và kéo dài thời hạn sử dụng của hạt mắc ca.

1.1. Tác động của nhiệt độ sấy

Nhiệt độ sấy là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đặc tính hạt mắc ca. Ở nhiệt độ 60°C, hạt giữ được màu sắc tự nhiên và độ cứng tốt, nhưng thời gian sấy kéo dài. Ngược lại, sấy ở 100°C giúp rút ngắn thời gian nhưng có nguy cơ làm giảm chất lượng dinh dưỡng và gây hiện tượng hóa nâu. Chỉ số peroxide tăng cao ở nhiệt độ cao, cho thấy sự oxy hóa chất béo không bão hòa trong hạt.

1.2. Thời gian sấy và độ ẩm

Thời gian sấy ảnh hưởng trực tiếp đến độ ẩm của hạt. Sấy trong 8 giờ ở 60°C giúp giảm độ ẩm xuống mức tối ưu (1.0-1.5%), đảm bảo khả năng bảo quản lâu dài. Tuy nhiên, thời gian sấy quá dài có thể làm giảm chất lượng cảm quan và tăng chi phí sản xuất.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp sấy đối lưu để đánh giá ảnh hưởng của chế độ sấy đến các chỉ tiêu chất lượng của hạt mắc ca. Các chỉ tiêu được đo lường bao gồm độ ẩm, độ cứng, màu sắc (L, a, b), chỉ số peroxide và hàm lượng đường tổng. Kết quả cho thấy sấy ở 80°C trong 6 giờ là chế độ sấy tối ưu, giúp duy trì chất lượng sản phẩm và đảm bảo tính cảm quan.

2.1. Đánh giá cảm quan

Các mẫu hạt sấy ở 80°C được đánh giá cao về màu sắc, độ giòn và hương vị. Chỉ số màu sắc (L, a, b) cho thấy sự ổn định màu sắc của hạt, không xuất hiện hiện tượng hóa nâu nghiêm trọng. Điều này khẳng định tác động của sấy đến chất lượng cảm quan là tích cực.

2.2. Chỉ số peroxide và chất béo

Chỉ số peroxide là thước đo mức độ oxy hóa chất béo trong hạt. Kết quả cho thấy sấy ở nhiệt độ cao (100°C) làm tăng chỉ số peroxide, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dinh dưỡng. Do đó, chế độ sấy cần được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế sự oxy hóa.

III. Ứng dụng thực tiễn và kết luận

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy trình sấy hạt mắc ca, đảm bảo chất lượng sản phẩm và kéo dài thời hạn sử dụng. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trong các cơ sở chế biến thực phẩm, giúp nâng cao giá trị kinh tế của hạt mắc ca trên thị trường trong nước và quốc tế.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu về công nghệ chế biến mắc ca, đặc biệt là phương pháp sấy. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để phát triển các sản phẩm mới từ hạt mắc ca, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp các cơ sở sản xuất lựa chọn chế độ sấy phù hợp, đảm bảo chất lượng sản phẩm và giảm thiểu chi phí sản xuất. Điều này góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hạt mắc ca Việt Nam trên thị trường quốc tế.

21/02/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ sấy đến chất lượng hạt mắc ca

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về hạt mắc ca 2. Nguồn gốc Cây mắc ca có nguồn gốc từ các khu rừng nhiệt đới ở phía đông Australia, có tên khoa học là Macadamia, thuộc họ Proteaceae và được du nhập sang đảo Hawaii khoảng 120 năm trước và bao gồm ít nhất năm loài ở Úc và mười loài trên toàn thế giới. Cây mắc ca là loại cây thường xanh và thích nghi với điều kiện khí hậu ấm, ẩm (Hamilton, 1958).

Do có nhân ăn được nên Macadamia Integrifolia Maiden & Betche và M., cùng với các giống lai của hai loài này, là những giống quan trọng về mặt kinh tế. Cả hai đều có nguồn gốc từ Úc. Bailey, được coi là không thể ăn được do một glucoside cyanogenic làm cho nhân có vị đắng (Storey, W. Integrifolia được coi là mắc ca vỏ nhẵn, trong khi M.

tetraphylla có vỏ thô (Hamilton và Fukunaga, 1959; Riperton và cộng sự, 1938). Cây mắc ca được trồng ở nước ta từ năm 1994, đến nay Việt Nam là nước đứng thứ 11 trong 17 nước có diện tích cây mắc ca lớn nhất trên thế giới (Hoàng Hòe, 2015; Nguyễn Công Tạn, 2005). Nước ta đang đẩy mạnh trồng cây mắc ca ở một số vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, diện tích trồng ngày càng được mở rộng. Sản phẩm chính của cây mắc ca là hạt.

Hạt mắc ca có màu sữa trắng ngả vàng, chiếm gần 1/3 trọng lượng hạt. Mắc ca thích hợp sinh trưởng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, vì có khả năng chịu hạn tốt nên mắc ca thích hợp được trồng ở những nơi thiếu nước trong mùa khô. Thông thường, cây mắc ca được trồng 5 năm mới bắt đầu cho quả, khoảng 1kg hạt/ cây (tính cả vỏ), đến năm thứ 12 trở lên cho năng suất ổn định, thường khoảng 12 - 14kg hạt/cây, nếu giống tốt và được trồng ở loại đất phù hợp thì có thể cho năng suất trên 20kg hạt/ cây. Một trong những yếu tố cần thiết đối với cây mắc ca là biên độ nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho cây mắc ca là 12-32oC, nhiệt độ tối ưu để cây ra hoa là 12 - 21oC, tốt nhất là ở 18oC.

Nếu nhiệt độ thấp hơn 12oC và cao hơn 21oC thì cây không thể ra hoa. Ra hoa kết quả là vấn đề chủ yếu để quyết định sản lượng của mắc ca. Năng suất của mắc ca phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống cây trồng, đất đai, khí hậu và cách chăm sóc. Muốn cho năng suất quả cao thì mắc ca phải trồng bằng cây ghép với các dòng đã được chọn lọc, cây trồng thực sinh cho năng suất kém, tỷ lệ thu hồi nhân thấp không thể trở thành cây trồng sản xuất hàng hóa.

Tổng hợp yếu tố sinh thái cho cây mắc ca Yếu tố Biên độ thích hợp 1. Khí hậu Nhiệt độ tối ưu (oC) 12 - 32 Nhiệt độ ra hoa (oC) 18 - 21 Lượng mưa tối ưu (mm) 1500 - 2500 2. Đất đai Loại đất Trồng được trên nhiều loại đất khác nhau Kết cấu đất Đất tơi xốp, thoát nước tốt Độ pH 5,5 - 6,5 3. Độ cao so với mặt biển Độ cao tương đối (m) 300 - 1200 Nguồn: Đặng Đinh Đức Phong &ctv; Cây mắc ca, tiềm năng và triển vọng phát triển trên địa bàn Tây Nguyên Hình 2.

Quả mắc ca 5 2. Đất đai Mắc ca ưa đất thịt nhẹ đến trung bình, tơi xốp, đặc biệt là đất đỏ, đất có tầng canh tác sâu khoảng 1m, có khả năng thoát nước tốt, thời hạn úng ngập không quá 10 ngày, đất có độ pH thích hợp nằm trong khoảng pH= 5,5 - 6,5. Mắc ca không ưa đất kiềm, đất phèn mặn hoặc đất đã bị thoái hóa nghiêm trọng. Chăm sóc Thông thường các loại cây lấy quả như cam, quýt, vải, nhãn…đòi hỏi cao về đất đai và cách bón phân, chăm sóc quản lý khắt khe thì cây mắc ca ít đòi hỏi hơn.

Sâu bệnh hại ít nghiêm trọng hơn, trừ việc phải thu lượm hạt kịp thời tránh tình trạng tổn thất do sóc, chuột ăn. Mặc dù cây mắc ca ít đòi hỏi cao về kĩ thuật chăm sóc nhưng cũng không thể chăm sóc sơ sài, 20-30 ngày sau khi trồng thì phải tiến hành kiểm tra, trồng dặm cây bị chết, chỉnh sửa ngay ngắn cây bị nghiêng hoặc đổ. Khoảng 30 - 40 ngày sau khi trồng thì tiến hành dọn dây leo, làm cỏ và xới đất xung quanh gốc cây đường kính 0,8 - 1m. Lần 2 cách lần 1 khoảng 40 - 50 ngày.

Hằng năm trước khi bón phân, đều phải tiến hành dọn dẹp cỏ, xới đất. Hầu hết các loại cây lấy quả đều đòi hỏi cao về kĩ thuật tạo tán. Phần lớn các loài có hoa tự đầu cành chỉ cành nào phát lộc vào vụ hè thu mới phân hoá được chồi hoa. Việc triệt phá lộc đông và xuân phải thực hiện triệt để kịp thời mới hy vọng ra hoa kết quả nhiều.

Hoa mắc ca không tự phát ở đầu cành mà mọc từ nách là cành 1 - 2 tuổi nên độc lập với phát lộc cành non và đây là lý do cây mắc ca ít phụ thuộc vào kĩ thuật tạo tán. Do đó việc tạo tán chỉ tập trung vào việc tối ưu hiệu quả quang hợp và tạo ra nhiều thuận lợi cho hoạt động khuyến lâm. Thu hoạch Thời điểm mắc ca ra hoa là vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 và thu hoạch mắc ca vào tháng 7 - 9. Thời gian để cây ra hoa cho đến lúc kết trái và sau đó thu hoạch khá dài vì mắc ca thường chín không đồng đều.

Cách thu hoạch chủ yếu là thu lượm quả chín rụng trên mặt đất bằng máy hoặc bằng tay. Khi chín hạt mắc ca chuyển từ màu xanh sang nâu thẫm, phần lớn vỏ quả đã nứt sẵn có thể tách lấy hạt ngay tại vườn. Tùy thuộc vào độ già của quả trên vườn mà có thể kết hợp thu hoạch đồng bộ để thuận lợi cho việc chế biến và bảo quản mắc ca. Có thể gặp một số khó khăn khi thu hoạch như phải thu nhặt hàng ngày để tránh tình trạng bị tổn thất do sóc, chuột ăn; làm sạch cỏ xung quanh cây để tránh bỏ sót hạt rụng; vì mùa thu hoạch mắc ca thường sẽ trùng với thời điểm thu hoạch nông nghiệp nên sẽ thiếu nhân công làm việc.

6 Hiện nay đã có nhiều chất điều hòa sinh trưởng có thể sử dụng để quả chín có thể rụng tập trung hơn có thể khắc phục tình trạng thiếu nhân công vào mùa thu hoạch. Vấn đề lớn nhất sau thu hoạch là làm khô quả vì quả mới rụng có độ ẩm cao lên tới 30%, cần phải nhanh chóng tách quả và hong khô trong bóng râm cho đến khi độ ẩm còn 10%, với độ ẩm này hạt có thể bảo quản trong vài tháng. Trong thương mại Quốc tế có độ ẩm tiêu chuẩn là 1.5%, với độ ẩm này có thể kéo dài thời gian bảo quản tới vài năm. Về mặt thực vật học, quả được tạo ra trên cây là quả nang và 'quả hạch' là hạt (Hartung và Storey, 1939).

Quả có lớp vỏ ngoài (vỏ), lớp vỏ cứng (lớp vỏ hoặc lớp vỏ hạt) và phôi (nhân hoặc thịt quả hạch). Nhân màu trắng kem gần như hình cầu với hai nửa lá mầm. Hạt mắc ca được đánh giá cao nhờ hương vị tinh tế độc đáo, kết cấu giòn và hàm lượng dầu cao. Nhân hạt mắc ca rất giàu acid béo không bão hòa đơn (Toledo Piza, 2000).

Hạt Macadamia Integrifolia nguyên hạt màu trắng kem Hạt mắc ca có chứa một lượng acid béo không bão hòa cao nên chúng dễ bị thủy phân và oxy hóa khi ở độ ẩm tự do cao dẫn đến hạt mắc ca dễ bị hư hỏng. Do đó, độ ẩm cần được loại bỏ càng nhanh càng tốt. Hạt mắc ca sau khi sấy có độ ẩm khoảng 1,0 - 1,5% (db). Chất lượng của hạt mắc ca và sự ổn định khi bảo quản phụ thuộc vào hàm lượng các hợp chất ban đầu có trong hạt khi thu hoạch và phương pháp chế biến cũng như phương pháp bảo quản hạt.

Hạt sau khi thu hoạch đi qua một số quá trình xử lý sẽ bị thay đổi về độ chín, độ ẩm, có khả năng bị hư tổn do bệnh hoặc do côn trùng. Màu sắc là tiêu chí chất lượng quan trọng của hạt mắc ca. Màu nâu bên trong có thể do sự tích tụ đường khử ở trung tâm của nhân phản ứng với các acid amin để tạo thành các sản phẩm hóa nâu do phản ứng Maillard (Prichavudhi & Yamamoto, 1965). Độ chín sinh lý của các loại hạt cũng có thể góp phần làm cho hạt có màu nâu bên trong.

Trong quá trình 7 phát triển của hạt, đường hexose được chuyển đổi thành acid béo trong phôi (Jones & Shaw, 1943). Nhân chưa trưởng thành có hàm lượng đường sucrose cao hơn và hàm lượng dầu thấp hơn so với nhân đã trưởng thành, nhưng không có sự khác biệt rõ rệt về hình dáng của hạt khi thu hoạch (Koaze và cộng sự 2002). Phân loại mắc ca Ở nước ta có khoảng 23 giống cây mắc ca được chọn lọc và trồng cho năng suất cao. Đến nay đã có 10 giống mắc ca được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận để phát triển vào sản xuất.

Các giống mắc ca được trồng phổ biến ở Việt Nam là A4, A16, A38, A203, A268, A246, A344, A660, OC, H2. Trong đó có 2 giống có triển vọng cao là OC và H2. Các giống mắc ca: Giống A4: giống được trồng phổ biến ở Úc từ năm 1987. Cây ra quả sớm, sản lượng cao.

Cây chống chịu gió tốt, cây có hoa quả sớm hơn các giống khác. Ưu điểm là thời gian thu hoạch ngắn, không có hiện tượng quả chín treo trên cây. Nhân thường đạt 3,6g – 3,8g. Nhược điểm là nhiều hoa không thể tự thụ phấn, phải trồng xen với các giống khác trong cùng lô để thụ phấn chéo, như vậy sẽ cho sản lượng cao.

Vỏ hạt hơi mỏng nên dễ bị chuột phá hoại. Giống A16: là một trong những giống trồng phổ biến ở Úc từ sau năm 1987. Nhân chất lượng cao, thường đạt 3,0g – 3,5g. Vỏ hạt trơn mỏng, dễ bị chuột phá hoại.

Giống A38: là giống tương đối mới của Hidden Valley từ năm 1991. Cây sớm cho quả. Hạt 6,7g, đều, nhân 2,7g, màu kem. Thời gian ra hoa ngắn, quả rụng giữa mùa, nhân có thể biến màu.

Cây kích thước trung bình, là giống rất nhạy cảm với hoàn cảnh, cho sản lượng cao. Giống A203: Hiện còn trồng rất ít tại Úc, là giống có quả sớm. Hạt 5,6g, nhân 2,1g, đều. Ra hoa giữa mùa hoa, quả rụng giữa mùa rụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ