CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Lý thuyết về quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp a, Khái niệm Một trong những nghiên cứu đầu tiên đề cập đến hành vi quản trị lợi nhuận (Earning management) là nghiên cứu của Hepworth (1953). Nghiên cứu thực hiện khảo sát và chỉ ra hành vi và cách thức mà nhà quản trị sử dụng để san bằng lợi nhuận (income smoothing) giữa các năm nhằm giảm mức độ đánh giá rủi ro của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp. Tuy không chỉ ra được cách thức cụ thể để nhận diện hành vi san bằng lợi nhuận nhưng Hepworth đã đặt nền móng quan trọng cho các nghiên cứu sau này. Có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về quản trị lợi nhuận.
Dưới đây là một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu đi trước: Theo quan điểm thứ nhất: theo Scott (1997) quản trị lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty. Đồng quan điểm với Scott, Davidson, Stickney và Weil (1987) phát biểu rằng: quản trị lợi nhuận là quá trình vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán trong khuôn khổ hệ thống kế toán để đạt được mức lợi nhuận mong muốn. Theo quan điểm thứ hai: Mở rộng hơn quan điểm trên, Schipper (1989) cho rằng quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân”. Dù được hiểu theo cách nào, quản trị lợi nhuận được hiểu chung là hành vi làm “méo mó” số liệu lợi nhuận thông qua hành vi điều chỉnh doanh thu và chi phí.
Đây là hành động các nhà quản lý công ty thực hiện nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ là các chính sách kế toán. b, Mục đích và động cơ quản trị lợi nhuận 5 Mục đích để các nhà quản lý thực hiện quản trị lợi nhuận thường nhằm đạt được mức lợi nhuận mong muốn đề ra. Đây là mức lợi nhuận do doanh nghiệp hoặc các nhà quản lý đặt ra tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, thời gian cụ thể. Chẳng hạn, các nhà quản lý có thể muốn tránh báo cáo lỗ hoặc lợi nhuận giảm so với cùng quý, năm trước (Burgstahler và Dichev, 1997a và 1997b; DeGeorge và cộng sự, 1999).
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015) và Phan Việt Hùng (2015) động lực để các nhà quản lý thực hiện quản trị lợi nhuận có thể là: doanh nghiệp lần đầu phát hành cổ phiếu (IPO) hoặc phát hành thêm cổ phiếu, tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN, doanh nghiệp mong muốn được hưởng thuế suất ưu đãi hoặc miễn thuế, chế độ lương thưởng cho các nhà quản trị, giảm thiểu chi phí điều tiết của Nhà nước… 1.2 Kế toán dồn tích: cơ sở của hành động quản trị lợi nhuận a, Khái niệm Các nguyên tắc kế toán: Một trong những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận là kế toán cơ sở dồn tích. Trên cơ sở kế toán dồn tích, tất cả các giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và thu nhập, chi phí được ghi nhận khi phát sinh giao dịch, không căn cứ vào các khoản phải thu và thời gian thực chi trả tiền. Do đó, các thông tin tài chính được trình bày trên báo cáo tài chính (bảng cân đối kế toán, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh) phản ánh không tương xứng với dòng tiền của các tài khoản. Tuy nhiên, kế toán trên cơ sở tiền mặt được áp dụng với báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các giao dịch kinh tế được ghi nhận khi thực nhận tiền hoặc chi trả tiền mặt.
Sự chênh lệch giữa dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tạo nên các khoản dồn tích (total accrual). Tổng các khoản dồn tích = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Khái niệm về các khoản dồn tích: Các khoản dồn tích là sự khác biệt giữa lợi nhuận ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh và dòng tiền từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Chẳng hạn, hoạt động bán chịu của doanh nghiệp làm tăng doanh thu dẫn đến gia tăng lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên hoạt 6 động bán chịu chưa thu được tiền mặt về cho doanh nghiệp, phát sinh tăng khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán.
b, Các chính sách kế toán vận dụng trong quản trị lợi nhuận Chính sách kế toán đối với hàng tồn kho: lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành sản phẩm, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán; lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn hàng bán trong kỳ; thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnh chi phí trong kỳ; Chính sách lập dự phòng phải thu khó đòi: có thể điều chỉnh chi phí và lợi nhuận thông qua việc dự kiến mức độ tổn thất đối với những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán, điều chỉnh mức lập dự phòng phải thu khó đòi; Chính sách lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: có thể chỉ trích lập dự phòng ít hơn mức cần thiết hoặc tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần thiết để điều chỉnh chi phí và lợi nhuận Chính sách về kế toán tài sản cố định: dựa vào tiêu chuẩn ghi nhận tài sản để điều chỉnh việc ghi nhận là tài sản hay một khoản chi phí; lựa chọn phương pháp khấu hao hoặc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản để điều chỉnh chi phí; Lựa chọn quy mô, tính chất sửa chữa và số kỳ trích trước hoặc phân bổ để điều chỉnh chi phí; lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý tài sản để điều chỉnh doanh thu, chi phí; Chính sách về phân bổ chi phí trả trước: lựa chọn số kỳ phân bổ sẽ chủ động điều chỉnh chi phí của từng kỳ; Ghi nhận chi phí phải trả, dự phòng phải trả, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: lựa chọn về mức trích lập, hoàn nhập thông qua các giá trị ước tính từ đó có thể làm điều chỉnh chi phí của công ty.3 Các phương pháp quản trị lợi nhuận Cắt giảm thuế suất là một trong những động cơ nhà quản lý thực hiện quản trị lợi nhuận nhằm tối thiểu hóa chi phí thuế phải nộp Nhà nước. Để có thể quản trị lợi nhuận, công ty tác động lên thu nhập chịu thuế. Có nhiều phương pháp khác nhau có thể được áp dụng trong quản trị lợi nhuận.1 Quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (Accrual earning management) Khái niệm về quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích: Theo Gordon (1964) định nghĩa quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích là hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua sự linh hoạt trong việc lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán được chấp nhận bởi các quy định về kế toán. Các chính sách kế toán có thể liên quan đến: chính sách hàng tồn kho, chính sách trích lập dự phòng….
Các ước tính kế toán được áp dụng duy nhất một lần khi nghiệp vụ phát sinh như: Ước tính thời gian khấu hao tài sản cố đinh Ước tính thời gian phân bổ hoặc giá trị phân bổ của khoản chi phí trả trước Ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp Các ước tính kế toán được thực cuối mỗi kỳ kế toán như: Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm Ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ Ước tính khoản phải thu khó đòi để điều chỉnh trích lập dự phòng phải thu khó đòi Ước tính giảm giá hàng tồn kho để lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Sự lựa chọn chính sách kế toán tạo nên các khoản dồn tích trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải tất cả các khoản dồn tích đều có thể được điều chỉnh bởi các nhà quản lý. Trong kế toán, các khoản dồn tích được chia làm hai phần là: dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionary Accrual-DA) và dồn tích không thể điều chỉnh (Non 8 Discretionary Accrual-NDA). Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh phản ánh điều kiện kinh doanh của từng doanh nghiệp cụ thể như chu kỳ sống của sản phẩm, chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp… Do đó, các nhà quản lý không thể điều chỉnh các khoản này.
Ngược lại, các khoản dồn tích có thể điều chỉnh là các khoản nhà quản lý có thể điều chỉnh thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán (tính giá hàng tồn kho, thời điểm ghi nhận doanh thu, lựa chọn phương pháp khấu hao…). Tổng các khoản dồn tích = các khoản dồn tích có thể điều chỉnh + các khoản dồn tích không thể điều chỉnh Để đo lường các khoản dồn tích có thể điều chỉnh, các khoản dồn tích không thể điều chỉnh nên được tính toán vì liên quan đến các hoạt động bình thường của một công ty. Do đó, để đi tính các khoản dồn tích có thể điều chỉnh, trước tiên cần đi tính các khoản dồn tích không thể điều chỉnh.2 Quản trị lợi nhuận thực tế (Real Earning Management) Theo Scholes và các cộng sự (1992), quản trị lợi nhuận thực tế là việc các công ty chủ động trì hoãn hoặc đẩy nhanh doanh thu bán hàng, điều chỉnh mức chi tiêu cho các hoạt động nghiên cứu phát triển hoặc chi tiêu cho quảng cáo, hành chính. Tóm lại, đây là phương pháp quản trị lợi nhuận thông qua quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh tế.
Quyết định lựa chọn thời điểm đầu tư hoặc thanh lý tài sản Quyết định quản lý về việc thực hiện nghiệp vụ tiêu thụ Quyết định về thực hiện các khoản chi phí nghiên cứu, triển khai Quyết định về các khoản đầu tư Ví dụ về quản lý thu nhập thực tế như giảm giá vào cuối năm nhằm nỗ lực đẩy nhanh doanh số bán hàng từ năm tài chính tới sang năm tài chính hiện tại hoặc ngược lại; trì hoãn các khoản đầu tư mong muốn và bán tài sản cố định để tác động đến thu nhập.4 So sánh sự khác biệt giữa quản trị lợi nhuận dồn tích và quản trị lợi nhuận thực tế Cả hai cách tiếp cận trong quản trị lợi nhuận đều có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận giữa các kỳ kế toán của doanh nghiệp.