CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG ÁN TREO 1. Cơ sở lý luận của áp dụng án treo 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng án treo 1. Khái niệm áp dụng án treo Án treo là một chế định pháp lý hình sự được quy định ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và ngày càng được hoàn thiện.
Án treo cũng được áp dụng khá phổ biến trong thực tiễn xét xử nước ta. Án treo thể hiện rõ phương châm “trừng trị kết hợp với cải tạo, giáo dục”, thể hiện rõ nội dung, bản chất nhân đạo của chính sách hình sự của Nhà nước ta. Người bị kết án được áp dụng án treo không buộc phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mà được tạo điều kiện để hòa nhập cùng cộng đồng, vẫn được làm ăn, sinh sống tại nơi cư trú, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Quá trình hình thành và phát triển chế định án treo gắn với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự, với quá trình hình thành và phát triển nhận thức về khái niệm án treo.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về án treo. Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định” [23, tr. Theo một quan điểm khác thì “Án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết được giảm nhẹ, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù” [57, tr. Tại Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày15/05/2018 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS năm 2015 về án treo, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định: “Án treo là biện pháp miễn chấp 8 hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”.
Trên cơ sở giải thích án treo của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, quan điểm của tác giả trong công trình nghiên cứu trong nước, học viên đưa ra quan điểm về án treo như sau: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ những căn cứ và điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định, đồng thời nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì người bị kết án sẽ phải chấp hành hình phạt tù được hưởng án treo của bản án trước đó”. Án treo cũng như áp dụng án treo là những vấn đề của pháp luật hình sự. Sự điều chỉnh pháp luật hình sự đối với vấn đề án treo không chỉ thể hiện ở việc quy định về án treo và áp dụng án treo mà còn thể hiện ở việc thực hiện các quy định đó trên thực tế. Vậy, thế nào là áp dụng án treo? Áp dụng án treo, xét về thực chất là áp dụng pháp luật về án treo.
Bởi vậy, để nhận thức về áp dụng án treo, trước hết cần nhận thức thế nào là áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, thể hiện tính tổ chức quyền lực của nhà nước. Trong mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, nhà nước vừa là chủ thể ban hành pháp luật đồng thời là chủ thể phải thực hiện một cách nghiêm chỉnh pháp luật.
Nhà nước vừa tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật vừa vận dụng pháp luật. Trong mối quan hệ với các chủ thể khác, hoạt động này có tính chất là áp đặt ý chí của nhà nước được thể hiện trong pháp luật vào hành vi cụ thể của các chủ thể pháp luật. Nhà nước trao quyền cho cơ quan hoặc tổ chức nhằm cá biệt hóa quy phạm pháp 9 luật vào các trường hợp cụ thể, tổ chức và cá nhân cụ thể. Áp dụng pháp luật được một số tác giả định nghĩa trong các công trình nghiên cứu trong nước như sau: Theo tác giả Trần Quang Hiếu định nghĩa: “Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, là một hoạt động thực tiễn pháp lý nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp tương ứng đối với các chủ thể pháp luật cụ thể, mang tính tổ chức - quyền lực do nhà nước thông qua những thiết chế của nó thực hiện” [31, tr.
Theo tác giả Phan Minh Đức: “Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt vì bằng các thiết chế của mình, nhà nước thực hiện việc tổ chức, giám sát các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật” [27, tr. Từ các cơ sở phân tích về án treo và áp dụng pháp luật, có thể hiểu: Áp dụng án treo là hoạt động áp dụng pháp luật về án treo, theo đó Tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự quyết định cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, có đầy đủ những căn cứ và điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định không phải chấp hành hình phạt tù, đồng thời ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm tại nơi cư trú, nơi công tác hoặc nơi làm việc; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì người bị kết án sẽ phải chấp hành hình phạt tù đã được tuyên trong bản án cho hưởng án treo trước đó. Đặc điểm của áp dụng án treo Áp dụng án treo là hoạt động pháp luật, nói cụ thể hơn là hoạt động áp dụng pháp luật, được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có mục đích rõ rang. Bởi vậy, áp dụng án treo có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, áp dụng án treo là hoạt động nhân danh Nhà nước, vì vậy cũng là nhân danh công lý.
Đây là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, cụ thể là thực hiện quyền tư pháp mà quyền tư pháp là một nhánh quyền lực nhà nước. Quyền tư pháp được thực hiện bởi hệ thống Tòa án nhân dân - cơ quan được giao nhiệm vụ xét xử các vụ án nói chung và vụ án hình sự nói riêng. Chỉ có Tòa án nhân dân mà trực tiếp là Hội đồng xét xử, thành phần Hội đồng xét xử bao 10 gồm thẩm phán và hội thẩm mới được nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng án treo đối với người phạm tội. Chính vì vậy, áp dụng án treo là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, tính thủ tục pháp lý, tính được bảo đảm bằng nhà nước.
Thứ hai, áp dụng án treo là hoạt động thực tiễn - hoạt động của con người được diễn ra trong xã hội và có mục đích rõ ràng. Đây là hoạt động đưa các quy phạm pháp luật hình sự về án treo vào cuộc sống hay nói cách khác là hoạt động cá biệt hoá các quy định pháp luật hình sự về án treo vào từng trường hợp (vụ án) cụ thể. Chủ thể áp dụng án treo căn cứ vào những quy định và điều kiện nhất định do pháp luật quy định về án treo áp dụng đối với đối tượng cụ thể trong vụ án hình sự cụ thể để đưa ra phán quyết đúng đắn, bảo đảm công bằng xã hội, quyền con người theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm phương châm trừng trị kết hợp với khoan hồng của Nhà nước ta nhằm cải tạo giáo dục người bị kết án nhanh chóng trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội. Thứ ba, áp dụng án treo là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính tuỳ nghi.
Điều đó có nghĩa là, áp dụng án treo không có tính bắt buộc đối với Toà án mà tuỳ trường hợp xét thấy có đủ điều kiện mà pháp luật hình sự quy định thì Toà án mới áp dụng. Tính tuỳ nghi của áp dụng án treo xuất phát từ quy phạm pháp luật mang tính tuỳ nghi áp dụng đã được pháp luật hình sự ghi nhận. Để áp dụng án treo, Toà án (cụ thể là Hội đồng xét xử) phải nghiên cứu và xem xét tất cả các yếu tố, các điều kiện và các mặt của sự việc (vụ án hình sự) đã xảy trên thực tế. Toà án cần vận dụng đầy đủ và có lý trí các quy phạm pháp luật về hành vi phạm tội để quyết định tội danh đúng và quyết định hình phạt đúng.
Đồng thời Toà án phải xem xét (không bỏ sót) các điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định như tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như đặc điểm về nhân thân, độ tuổi của bị cáo, có hay không có nơi cư trú rõ ràng, có hay không có nơi làm việc ổn định, vai trò của bị cáo trong vụ án, xem xét cần hay không cần buộc người bị kết án phải chấp hành hay không cần phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên tại trại giam, xem bị cáo có hay không có 11 khả năng tự cải tạo giáo dục trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, nhất là việc cho người bị kết án hưởng án treo gây ra hay không gây ra nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng hay không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Chỉ khi nào đã cân nhắc và có câu trả lời xác đáng về những câu hỏi nêu trên, Toà án mới quyết định áp dụng hay không áp dụng án treo đối với người bị kết án phạt tù từ ba năm tù trở xuống, đồng thời ấn định thời gian thử thách cho người phạm tội.