Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Ẩn dụ phạm trù lửa trong tiếng Pháp và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận" được tác giả Lê Lâm Thi thực hiện tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế vào năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Anh Nga và TS. Nguyễn Thị Bạch Nhạn, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Ngôn ngữ học).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận kể từ công trình Metaphors We Live By (1980) của George Lakoff và Mark Johnson, qua đó ẩn dụ không còn đơn thuần là một biện pháp tu từ hay phương thức chuyển nghĩa từ vựng bề mặt, mà được xác định là một phương thức tư duy ý niệm phản ánh cách thức con người nhận thức và ý niệm hóa thế giới. Trong giao tiếp thực tế, người bản ngữ vận dụng ẩn dụ một cách tự nhiên nhưng khó chỉ ra các quy tắc chi phối quá trình chuyển di ý niệm. Đồng thời, sự khác biệt về văn hóa, lịch sử và tư duy giữa các dân tộc có thể dẫn đến việc hiểu sai hoặc không hiểu trong giao tiếp liên văn hóa. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ học tri nhận còn khiêm tốn về số lượng, chủ yếu tập trung vào cặp ngôn ngữ Anh - Việt; các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm giữa tiếng Pháp và tiếng Việt gần như chưa được thực hiện. Biểu tượng "lửa" vốn là một phạm trù văn hóa - ngôn ngữ nhân loại phong phú, mang tính phổ quát lẫn đặc thù dân tộc, song chưa từng được khảo sát đối chiếu một cách có hệ thống giữa tiếng Pháp và tiếng Việt dưới góc độ tri nhận.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các ẩn dụ ý niệm thuộc phạm trù lửa được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn học tiếng Pháp và tiếng Việt; phân tích mô hình ánh xạ của những ẩn dụ đó trong việc thể hiện tư duy của từng dân tộc; từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đồng thời giải thích các điểm tương đồng và dị biệt này dựa trên mối quan hệ giữa tư duy, văn hóa và ngôn ngữ của hai dân tộc.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng kết những vấn đề lý thuyết liên quan đến ẩn dụ ý niệm để làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
  2. Hệ thống hoá, mô hình hoá cấu trúc ẩn dụ ý niệm về lửa trong tiếng Pháp và tiếng Việt.
  3. So sánh - đối chiếu ẩn dụ ý niệm của phạm trù lửa trong tiếng Pháp và tiếng Việt nhằm xác định những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm về lửa; trên cơ sở đó chỉ ra một số nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt dựa trên các đặc điểm văn hóa - xã hội của mỗi quốc gia, chứng minh việc sử dụng ngôn ngữ chịu sự chi phối của các điều kiện văn hóa, xã hội và tập quán thói quen của mỗi dân tộc.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm của phạm trù lửa trong tiếng Pháp và tiếng Việt, tập trung vào quá trình ý niệm hóa, phạm trù hóa thế giới và sự chuyển di khái niệm từ phạm trù lửa sang các phạm trù chỉ các đối tượng khác dựa trên ngữ liệu của hai ngôn ngữ.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn vào các mô hình ánh xạ ẩn dụ từ miền nguồn lửa đến những miền đích khác nhau. Luận án chủ yếu phân tích các ẩn dụ cấu trúc và một số ẩn dụ bản thể từ miền nguồn lửa, không nghiên cứu loại hình ẩn dụ định hướng. Về phạm vi không gian và thời gian, luận án khảo sát các nguồn ngữ liệu từ điển chuẩn mực hiện đại và các văn bản ngôn ngữ đời sống, văn học, báo chí đương đại ở cả hai quốc gia Pháp và Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo ba trục nội dung chính:

Thứ nhất, tổng quan các nghiên cứu về ẩn dụ từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận:

  • Các nghiên cứu quốc tế: Khởi đầu từ công trình nền tảng Metaphors We Live By (1980) của George Lakoff và Mark Johnson đặt nền móng cho lý thuyết ẩn dụ ý niệm dựa trên kinh nghiệm luận; Women, Fire, and Dangerous Things: What Categories Reveal About the Mind (1987) của George Lakoff phát triển mô hình tri nhận dựa trên ngữ nghĩa và nghiên cứu tác động của ẩn dụ đối với ngữ pháp; Metaphor in Cognitive Linguistics (1997) của Raymond W. Gibbs và Gerard J. Steen tổng hợp các cơ chế hình thành ẩn dụ từ sự ý niệm hóa; Metaphors in Education Discourse (2003) của Lynne Cameron phân tích ẩn dụ trong diễn ngôn dạy học, kế thừa mô hình đường kênh của Donald Schön (1979) và Michael Reddy (1979); cùng các nghiên cứu liên ngành về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của Dorothy Holland (1982) trong nhân chủng học, Steven L. Winter (1989, 1992) trong luật học, Gilles Fauconnier và Mark Turner (2003) trong văn học, George Lakoff (2002) trong chính trị học và Janet Martin Soskice (1987) trong tôn giáo.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả phân chia thành ba hướng tiếp cận:
    • Hướng giới thiệu, bổ sung và làm sáng tỏ lý thuyết: Lý Toàn Thắng (2005) với công trình Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt; Trần Văn Cơ với Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) (2007), Khảo luận Ẩn dụ tri nhận (2009), Ngôn ngữ học tri nhận - Từ điển (2011); Nguyễn Đức Tồn (2002, 2008) với các nghiên cứu về đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, xem ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy; Lê Quang Thiêm (2006) về ngữ nghĩa học tri nhận; Phan Văn Hòa (2008) về ẩn dụ ngữ pháp và dụng học.
    • Hướng ứng dụng lý thuyết vào phân tích tiếng Việt: Nghiên cứu tri nhận không gian, thời gian của Nguyễn Đức Dân (2001), Nguyễn Hòa (2007); miền sông nước của Trịnh Sâm (2003), Đinh Thị Vũ Trinh (2010); ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009), Trần Thị Mỹ Liên (2011); bộ phận cơ thể của Trịnh Thị Thanh Huệ (2012); miền đồ ăn của Nguyễn Thị Bích Hợp (2016); và các đề tài nghiên cứu ẩn dụ trong văn học của Nguyễn Thị Kim Thoa (2013), Nguyễn Thị Thủy (2013), Vũ Thị Sao Chi và Phạm Thị Thu Thủy (2014), Phạm Thị Hương Quỳnh (2015), Nguyễn Thu Quỳnh (2015).
    • Hướng so sánh - đối chiếu ẩn dụ ý niệm: Luận án của Phan Thế Hưng (2009) khảo sát ẩn dụ ý niệm Anh - Việt; Hà Thanh Hải (2011) đối chiếu ẩn dụ kinh tế Anh - Việt; Trần Thị Phương Lý (2011) nghiên cứu ẩn dụ phạm trù thực vật tiếng Việt có liên hệ tiếng Anh; Ly Lan (2012) nghiên cứu từ biểu đạt tình cảm Anh - Việt; Phan Văn Hòa và Nguyễn Thị Tú Trinh (2010), Nguyễn Thị Kim Anh (2014) khảo sát thành ngữ, tục ngữ Anh - Việt.

Thứ hai, tổng quan nghiên cứu về "lửa" trong lĩnh vực ngôn ngữ:

  • Trên thế giới: Zoltán Kövecses (2003) trong Metaphor: A Practical Introduction phân tích các ẩn dụ đơn giản như CẢM XÚC LÀ SỨC NÓNG CỦA LỬA, MỘT TÌNH HUỐNG LÀ SỨC NÓNG CỦA LỬA và ẩn dụ phức hợp như SỰ TỨC GIẬN LÀ LỬA, TÌNH YÊU LÀ LỬA, CUỘC SỐNG LÀ LỬA; George Lakoff (1987) phân tích ý niệm nguy hiểm của lửa; Kemal Özmen (1985) nghiên cứu biểu tượng lửa và nước trong thơ Paul Éluard; Amélie de Chaisemartin khảo sát lửa ánh mắt trong tác phẩm của Victor Hugo; bài viết về hình ảnh ngọn lửa trong thơ Jean de la Croix (2013).
  • Tại Việt Nam: Đoàn Tiến Lực (2012) khảo sát lửa từ biểu tượng văn hóa đến biểu tượng ngôn từ trong thi ca; Nguyễn Thị Hằng (2012) thống kê hệ thống từ ngữ chỉ ý niệm nước và lửa; Huỳnh Ngọc Mai Kha (2015) nghiên cứu đối chiếu thành ngữ chỉ nước và lửa trong tiếng Việt và tiếng Anh; Nguyễn Văn Thạo (2015) khảo sát trường nghĩa "lửa" và "nước" trong tiếng Việt.

Thứ ba, tổng quan nghiên cứu về "lửa" trong lĩnh vực văn hóa:

  • Trên thế giới: Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (1982) trong Dictionnaire des symboles tổng hợp biểu tượng lửa trong Ấn Độ giáo, Kinh Dịch, Đạo Mazdéism với các chiều kích bản thể, thần thánh, tẩy uế, tái sinh, hủy diệt; James George Frazer (1890-1907) trong The Golden Bough lý giải các lễ hội lửa ở châu Âu theo lý thuyết mặt trời và lý thuyết tẩy uế; Jean-Pierre Bayard (2009) với La symbolique du feu; Gaston Bachelard (1966) với La psychanalyse du feu phân tích các phức cảm Prométhée, Empédocle, sự liên kết giữa lửa với sự tôn kính, mơ mộng và tình ái.
  • Tại Việt Nam: Trần Ngọc Thêm (2000) trong Cơ sở văn hóa Việt Nam đề cập đến vai trò người giữ lửa, Thổ công và cấu trúc âm dương lửa - nước.

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống học thuật khi là công trình chuyên biệt khảo sát đối chiếu toàn diện phạm trù lửa như một miền nguồn độc lập giữa tiếng Pháp và tiếng Việt theo đường hướng ngôn ngữ học tri nhận, vượt ra khỏi các nghiên cứu thành ngữ Anh - Việt đơn lẻ trước đó.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các trụ cột của ngôn ngữ học tri nhận:

  • Phạm trù và sự phạm trù hóa: Phân biệt quan điểm cổ điển (Aristotle đến Ludwig Wittgenstein coi phạm trù là vật chứa đóng kín với các thuộc tính chung tất yếu) với quan điểm tri nhận (Eleanor Rosch, George Lakoff, Lý Toàn Thắng coi phạm trù có cấu trúc điển dạng, ranh giới mờ, bao gồm các thành viên điển hình và các ví dụ đạt hoặc tồi).
  • Ý niệm và sự ý niệm hóa: Ý niệm (concept) được định nghĩa là đơn vị nội dung tâm lý của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần (lingua mentalis), hoạt động như những lượng tử tri thức. Sự ý niệm hóa là quá trình phân cắt hiện thực khách quan bằng công cụ ngôn ngữ mang tính đặc thù văn hóa của từng cộng đồng.
  • Lý thuyết ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor): Ẩn dụ là cơ chế tri nhận chuyển chiếu cấu trúc nhận thức từ miền nguồn (source domain) sang miền đích (target domain). Quá trình này dựa trên tính nghiệm thân (embodiment), nghĩa là hệ thống ý niệm bắt nguồn từ trải nghiệm thể xác, vận động giác quan và tương tác xã hội của con người với môi trường vật lý (Lakoff & Johnson, 1980, 1999).
  • Nguyên lý hằng số (Invariance Principle): Trích dẫn từ George Lakoff (1992), xác định rằng các ánh xạ ẩn dụ lưu giữ cấu trúc hình học tri nhận của miền nguồn theo cách thức nhất quán với cấu trúc nội tại vốn có của miền đích.
  • Phân loại ẩn dụ: Luận án trình bày hệ thống ba loại ẩn dụ ý niệm của George Lakoff và Mark Johnson gồm ẩn dụ cấu trúc (structural metaphors), ẩn dụ định hướng (orientational metaphors) và ẩn dụ bản thể (ontological metaphors - gồm ẩn dụ thực thể, vật chất và ẩn dụ vật chứa).
  • Bức tranh ngôn ngữ về thế giới: Dựa trên tư tưởng của Wilhelm von Humboldt, giả thuyết tính tương đối ngôn ngữ của Edward Sapir và Benjamin Lee Whorf, và nghiên cứu của Lý Toàn Thắng, luận án khẳng định bức tranh ngôn ngữ về thế giới mang tính chất động, phản ánh góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa riêng biệt của mỗi cộng đồng bản ngữ.
  • Khái niệm "Phạm trù lửa": Được luận án xác định gồm 5 nhóm nội dung: (1) Lửa và các dạng thể liên quan đến lửa; (2) Những tính chất, đặc điểm, trạng thái của lửa và vật đang cháy; (3) Quá trình vận động của lửa và vật đang cháy; (4) Những hành động của con người với lửa; (5) Những đối tượng, khái niệm khác có liên quan đến lửa.
  • Thuộc tính điển dạng của lửa trong mô hình tri nhận nguồn: Gồm cấu tạo (phát nhiệt và ánh sáng), dạng thức (ngọn, đốm, ánh), tính chất (sức nóng, ánh sáng), màu sắc (đỏ, vàng, hồng, xanh), chức năng (sưởi ấm, soi sáng, tẩy uế - tái sinh, tâm linh) và tác hại (đốt cháy, thiêu hủy, tàn phá).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp định tính và định lượng:

  • Phương pháp miêu tả: Sử dụng thủ pháp thu thập tư liệu, thống kê từ vựng và ngữ liệu, phân tích ngữ nghĩa để tái lập các mô hình tri nhận của ẩn dụ.
  • Phương pháp đối chiếu: So sánh các mô hình chuyển di và cấu trúc ánh xạ giữa tiếng Pháp và tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ điểm tương đồng và dị biệt gắn với tư duy văn hóa dân tộc.
  • Phương pháp định lượng: Thống kê số lượng, phân loại từ ngữ theo trường từ vựng trong từ điển; tính toán tỷ lệ phần trăm các biểu thức ẩn dụ trong từ điển và ngữ liệu đời sống/văn học, trình bày qua hệ thống bảng biểu số liệu.
  • Phương pháp định tính: Phân tích ngữ nghĩa học tri nhận, phục hồi các ánh xạ nguồn - đích nằm ẩn dưới các biểu thức ngôn ngữ bề mặt.

Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua 4 bước:

  1. Khảo sát các nhóm từ ngữ thuộc phạm trù lửa cùng sự chọn lọc và phân bố thuộc tính điển dạng trong hai miền nguồn - đích ở tiếng Pháp và tiếng Việt.
  2. Thiết lập sự ánh xạ của mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm về lửa trong hai ngôn ngữ.
  3. Nghiên cứu chi tiết mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm về lửa trong từng ngôn ngữ.
  4. Đối chiếu tìm ra các nét tương đồng và khác biệt về ẩn dụ ý niệm của phạm trù lửa giữa hai ngôn ngữ.

Quy ước biểu diễn và ngữ liệu nghiên cứu:

  • Ký hiệu ánh xạ: Bên cạnh cách viết in hoa kết nối bằng từ "LÀ", tác giả sử dụng ký hiệu > < để biểu thị quan hệ ánh xạ nguồn - đích (ví dụ: THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT > < LỬA) do từ "LÀ" trong tiếng Việt không hoàn toàn đồng nhất với động từ liên kết "TO BE" trong tiếng Anh.
  • Quy ước dịch ngữ liệu tiếng Pháp: Cung cấp hai phiên bản đặt trong ngoặc đơn ngăn cách bằng dấu gạch chéo /: Phiên bản 1 dịch sát nghĩa từng từ một (mot à mot) để làm nổi bật từ ngữ thuộc phạm trù lửa; Phiên bản 2 diễn đạt lại ý nghĩa tương đương trong ngữ cảnh tiếng Việt (ví dụ: Vins qui ont encore assez de feu dịch là: Rượu vẫn còn đủ lửa / Rượu vẫn còn vị nồng).
  • Nguồn ngữ liệu:
    • Từ điển: Tiếng Pháp sử dụng Le Petit Robert (2014), Dictionnaire des Proverbes et Dictons (Les Usuels du Robert), Encyclopédie Universelle; tiếng Việt sử dụng Từ điển tiếng Việt (1995) do Hoàng Phê chủ biên, Từ điển Thành ngữ Tiếng Việt (2002) của Nguyễn Lực, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (1978, NXB Khoa học xã hội).
    • Ngữ liệu văn bản đời sống: Khảo sát 200 mẫu ngữ liệu có sử dụng ẩn dụ phạm trù lửa ở mỗi ngôn ngữ trích xuất từ tác phẩm văn học, báo điện tử, trang web, lời bài hát. Các mẫu ngữ liệu được đánh mã ký hiệu từ P.1 đến P.200 cho tiếng Pháp (lưu tại Phụ lục 3) và từ V.1 đến V.200 cho tiếng Việt (lưu tại Phụ lục 6).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu lý thuyết ẩn dụ tri nhận trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về biểu tượng và từ vựng "lửa" trong ngôn ngữ học và văn hóa học. Chương này xác lập khung lý thuyết nền tảng gồm các khái niệm: phạm trù hóa, ý niệm hóa, tính nghiệm thân, cấu trúc trung tâm - ngoại vi của mô hình tri nhận, ba loại hình ẩn dụ (cấu trúc, định hướng, bản thể) và lý thuyết bức tranh ngôn ngữ về thế giới. Tác giả định nghĩa phạm trù lửa trong luận án và phân tích chi tiết 6 nhóm thuộc tính điển dạng của lửa ở miền nguồn: cấu tạo, dạng thức, tính chất, màu sắc, chức năng và tác hại; đồng thời phân tích cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích dựa trên nguyên lý hằng số của Lakoff (1992).

Chương 2: Ẩn dụ phạm trù lửa trong tiếng Pháp từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận

Chương 2 khảo sát toàn diện hệ thống từ vựng và các mô hình tri nhận ẩn dụ của phạm trù lửa trong tiếng Pháp. Qua khảo sát từ điển Le Petit Robert (2014), tác giả thống kê và phân loại 116 từ ngữ thuộc phạm trù lửa thành 5 nhóm:

STT Tên nhóm từ ngữ phạm trù lửa trong tiếng Pháp Số lượng từ Tỉ lệ (%)
1 Từ ngữ định danh lửa và các dạng thể liên quan đến lửa 18 15,5
2 Từ ngữ chỉ tính chất, đặc điểm, trạng thái của lửa và của vật đang cháy 13 11,2
3 Từ ngữ chỉ quá trình vận động của lửa và của vật đang cháy 23 19,8
4 Từ ngữ chỉ hoạt động của con người với lửa 28 24,2
5 Từ ngữ chỉ những đối tượng, khái niệm khác có liên quan đến lửa 34 29,3
Tổng Toàn bộ các nhóm từ ngữ 116 100

Phân tích chi tiết các nhóm từ vựng và cơ chế chuyển nghĩa:

  • Nhóm 1 (18 từ định danh): Bao gồm feu, flamme, flambée, braise, brasier, torche, tison, flammèche, cendre, charbon, fumée, étincelle, flamboiement, fournaise, flambeau, cierge, bougie, chandelle. Trong đó, từ feu có 4 nét nghĩa cơ bản: (1) Sự đốt cháy mạnh mẽ giải phóng nhiệt và ánh sáng; (2) Sự nổ súng, hỏa lực; (3) Ánh sáng; (4) Cảm xúc nóng bỏng. Ba ý niệm biểu trưng cốt lõi là Feu là sự cháy, Feu là nguồn phát ánh sáng, Feu là sức nóng làm phát sinh các chuyển di sang hoạt động (Mettre le feu aux poudres - làm bùng nổ hăng hái), sự nguy hiểm (Jouer avec le feu - đùa với lửa), hiện tượng tự nhiên (Le feu du jour - mặt trời), hoặc cảm xúc (Dans le feu de la colère - trong cơn lửa giận). Từ flamme chuyển di sang tình cảm (Déclarer sa flamme - tỏ tình); từ flambeau chuyển di sang thực thể tự nhiên (Le flambeau du jour) hoặc khái niệm trừu tượng (Le flambeau de la liberté).
  • Nhóm 2 (13 từ chỉ tính chất, trạng thái): Chia thành 3 tiểu nhóm: cảm nhận thị giác (3 từ: étincelant, flamboyant, flambant), cảm nhận xúc giác (4 từ: brûlant, torride, ardent, incendiaire), trạng thái/mùi vị (6 từ: incendié, enflammé, roussi, graillon, brûlé, brûlure). Các từ này chuyển nghĩa mô tả vấn đề xã hội (Problème brûlant), ánh nhìn (Un regard brûlant) hoặc trạng thái sinh học (La fièvre ardente).
  • Nhóm 3 (23 từ chỉ quá trình vận động): Gồm 13 từ chỉ hoạt động của lửa (s'éteindre, s'enflammer, chauffer, cramer, roussir, flamber, brûler...). Từ flamber chuyển nghĩa chỉ cường độ cảm xúc (Flamber de passion); từ brûler biểu đạt sự sốt ruột hoặc đam mê mãnh liệt.
  • Nhóm 4 (28 từ chỉ hoạt động của con người với lửa) và Nhóm 5 (34 từ chỉ nguyên liệu, nơi chốn, vật dụng liên quan đến lửa).

Về tái lập mô hình tri nhận, chương 2 phân tích các luồng ánh xạ từ miền nguồn lửa đến ba miền đích lớn trong tiếng Pháp:

  1. Miền đích con người: Ánh xạ tới con người tâm lý, tình cảm (tình yêu, sự giận dữ, niềm đam mê); con người xã hội (hoạt động chính trị, xung đột, giao tiếp); con người sinh học (bệnh tật, thân nhiệt, cảm giác đau đớn); con người tâm linh (linh hồn, đức tin tôn giáo).
  2. Miền đích đời sống xã hội: Ánh xạ tới chiến tranh, xung đột quân sự, tình hình kinh tế, các biến động xã hội.
  3. Miền đích hiện tượng tự nhiên: Ánh xạ tới mặt trời, thời tiết nóng bức, thiên thể phát sáng.

Chương 3: Ẩn dụ phạm trù lửa trong tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận

Chương 3 tiến hành khảo sát và phân loại các từ ngữ thuộc phạm trù lửa trong tiếng Việt dựa trên Từ điển tiếng Việt (1995) theo cấu trúc 5 nhóm tương ứng:

  1. Nhóm từ ngữ định danh lửa và các dạng thể liên quan đến lửa (lửa, than, tro, khói, bồ hóng, tàn, ngọn lửa, tia lửa, ánh lửa, đèn, đuốc, nến...).
  2. Nhóm từ ngữ chỉ đặc điểm, trạng thái của lửa và của vật đang cháy (rực, bùng, le lói, ngùn ngụt, âm ỉ, bập bùng, chập chờn, nóng, bỏng, khét, khê...).
  3. Nhóm từ ngữ chỉ quá trình vận động của lửa và của vật đang cháy (cháy, bén, tắt, lụi, thiêu, lây...).
  4. Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động của con người với lửa (đốt, thắp, nhen, nhóm, dập, quạt, châm, nấu, nướng...).
  5. Nhóm từ ngữ chỉ những đối tượng, khái niệm khác có liên quan đến lửa (củi, rơm, dầu, diêm, bếp, lò, hương, trầm...).

Chương 3 tái lập sự ánh xạ của mô hình tri nhận ẩn dụ lửa trong tiếng Việt sang các miền đích:

  • Miền đích con người:
    • Con người tâm lý, tình cảm: Lửa ánh xạ vào tình yêu đôi lứa (Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, ngọn lửa tình), lòng nhiệt huyết, khát vọng, sự giận dữ (Cơm sôi nhỏ lửa, bốc hỏa, phát hỏa), tâm trạng bồn chồn lo lắng (cháy ruột, cháy gan, như ngồi trên đống lửa). Đặc biệt, luận án dành tiểu mục phân tích sâu sự ánh xạ từ lửa đến miền đích tình yêu qua Bảng 3.7.
    • Con người xã hội: Ánh xạ vào vị thế quyền lực (Thét ra lửa), các mối quan hệ gia đình (giữ lửa gia đình), hành vi tranh biện (Cãi cọ nảy lửa), hoặc mưu mô hiểm độc (Gắp lửa bỏ tay người).
    • Con người sinh học: Diễn đạt cảm giác nhiệt cơ thể, các cơn sốt, đau ốm.
    • Con người tâm linh: Thể hiện qua khói hương, thờ cúng tổ tiên, kết nối âm dương (hương hỏa, hương khói).
  • Miền đích đời sống xã hội: Ánh xạ đến chiến tranh, tai họa, tình trạng bất ổn (Dầu sôi lửa bỏng, bom lửa).
  • Miền đích hiện tượng tự nhiên: Nắng gắt, mặt trời chiếu rọi dữ dội.

Chương 4: Những điểm tương đồng và khác biệt của ẩn dụ phạm trù lửa trong tiếng Pháp và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận

Chương 4 thực hiện việc so sánh, đối chiếu toàn diện các kết quả đã khảo sát ở Chương 2 và Chương 3:

  • Sự tương đồng và khác biệt trong việc lựa chọn thuộc tính điển dạng: Cả hai ngôn ngữ đều lựa chọn các thuộc tính vật lý nổi bật như nhiệt độ cao, khả năng phát sáng, tính chất thiêu đốt để ánh xạ sang cảm xúc mạnh (giận dữ, tình yêu) và sự nguy hiểm. Khác biệt thể hiện ở chỗ tiếng Pháp khai thác sâu thuộc tính ánh sáng soi đường gắn với trí tuệ, lý tính và tiến bộ xã hội (flambeau du progrès); trong khi tiếng Việt tập trung nhiều vào các thuộc tính ấm áp của bếp lửa, khói hương gắn với sinh hoạt gia đình và tâm linh truyền thống.
  • Sự tương đồng và khác biệt trong mô hình tri nhận và cấu trúc ánh xạ:
    • Tương đồng: Cùng sở hữu các mô hình ẩn dụ ý niệm chung như TÌNH CẢM LÀ LỬA, TÌNH YÊU LÀ LỬA, GIẬN DỮ LÀ LỬA, CHIẾN TRANH LÀ LỬA.
    • Khác biệt: Thể hiện qua tỷ lệ phân bố số lượng và mức độ tập trung của các miền đích (Bảng so sánh 4.1 về miền đích con người). Tiếng Pháp có tần số xuất hiện cao ở các ẩn dụ chỉ hoạt động xã hội, tri thức và phản biện; tiếng Việt có tần số cao ở các ẩn dụ diễn đạt tình cảm nội tâm, quan hệ gia tộc và không gian văn hóa tâm linh.
  • Lý giải nguyên nhân: Luận án giải thích các điểm dị biệt dựa trên cơ sở loại hình học ngôn ngữ (ngôn ngữ hòa kết biến tố phân tích tính như tiếng Pháp đối lập với ngôn ngữ đơn lập không biến hình như tiếng Việt) và đặc trưng văn hóa - tư duy (văn hóa phương Tây duy lý, trọng động đối lập với văn hóa phương Đông nông nghiệp truyền thống trọng tình cảm, coi trọng sự hài hòa âm dương).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp sau:

  • Làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý thuyết về ẩn dụ ý niệm và quá trình ý niệm hóa phạm trù lửa qua tư duy và ngôn ngữ của hai dân tộc Pháp và Việt Nam.
  • Góp phần định hình phương pháp luận và quy trình nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ theo đường hướng ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam thông qua việc kết hợp phân tích ngữ liệu từ điển chuẩn mực với ngữ liệu đời sống thực tế.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để xem xét các hiện tượng ẩn dụ ý niệm được cụ thể hóa trong các ngôn ngữ thuộc các loại hình và nền văn hóa khác nhau.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các giá trị:

  • Đóng góp tư liệu và tri thức hỗ trợ nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học ngoại ngữ (tiếng Pháp cho người Việt và tiếng Việt cho người Pháp), giúp người học hiểu rõ cơ chế tri nhận đằng sau các thành ngữ, quán ngữ chứa yếu tố lửa để tránh nhầm lẫn trong giao tiếp liên văn hóa.
  • Cung cấp nguồn tư liệu hữu ích phục vụ công tác dịch thuật hai chiều Pháp - Việt và Việt - Pháp, hỗ trợ người dịch nắm bắt chính xác các tầng nghĩa biểu trưng xuất phát từ đặc thù tư duy dân tộc.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên ngành cho các lĩnh vực ngôn ngữ học, văn hóa học và tâm lý học.

Về giải pháp và kiến nghị: Tác giả đề xuất việc giảng dạy và biên dịch ngôn ngữ cần gắn liền việc dạy cấu trúc ngữ pháp - từ vựng với việc truyền tải tri thức nền tảng về văn hóa và cơ chế tri nhận ý niệm của người bản ngữ, tránh lối dịch cơ học từng từ làm mất đi hàm ý biểu trưng dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tự xác định các giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát lý thuyết chỉ tập trung vào các ẩn dụ cấu trúc và một số ẩn dụ bản thể từ miền nguồn lửa; luận án không khảo sát loại hình ẩn dụ định hướng.
  • Ngữ liệu khảo sát ngoài từ điển được giới hạn ở quy mô 200 đơn vị ngữ liệu cho mỗi ngôn ngữ (200 ngữ liệu tiếng Pháp và 200 ngữ liệu tiếng Việt), chưa bao quát toàn bộ mọi phong cách chức năng ngôn ngữ.
  • Việc phân tích các yếu tố tâm lý - văn hóa chỉ dừng lại ở phạm vi các dữ liệu liên quan trực tiếp đến thuộc tính của lửa trong tư liệu khảo sát.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các loại hình ẩn dụ định hướng có liên quan đến lửa (như sự vận động bốc lên cao của ngọn lửa).
  • Mở rộng quy mô dung lượng ngữ liệu sang các thể loại diễn ngôn chuyên biệt khác như diễn ngôn chính trị, pháp luật hoặc quảng cáo đương đại.
  • Mở rộng phạm vi đối chiếu sang các ngôn ngữ khác trong khu vực và trên thế giới nhằm kiểm chứng tính phổ quát và đặc thù của miền ý niệm lửa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu: Cung cấp khung thao tác cụ thể về quy trình 4 bước nghiên cứu ẩn dụ tri nhận và phương pháp lập bảng đối chiếu trường từ vựng.
  • Giảng viên và người học tiếng Pháp: Tham khảo danh mục 116 từ ngữ thuộc phạm trù lửa trong tiếng Pháp (Bảng 2.1) cùng các mô hình chuyển nghĩa chi tiết của các từ cốt lõi như feu, flamme, flambeau, brûler, flamber.
  • Chuyên viên biên phiên dịch Pháp - Việt và Việt - Pháp: Tham khảo phương pháp dịch đối chiếu hai tầng (phiên bản dịch sát từ mot à mot kết hợp phiên bản chuyển dịch ngữ nghĩa ẩn dụ) áp dụng cho các thành ngữ, tục ngữ chứa biểu tượng lửa.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa học và tâm lý học: Khai thác bức tranh so sánh văn hóa Đông - Tây thể hiện qua biểu tượng lửa trong đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa phạm trù lửa như thế nào và phân chia thành những nhóm nào?

Phạm trù lửa được tác giả xác định là tập hợp ý niệm gồm 5 nhóm:

  1. Lửa và các dạng thể liên quan đến lửa (lửa, than, tro, đèn, đuốc...).
  2. Những tính chất, đặc điểm, trạng thái của lửa và của vật đang cháy (rực, bùng, ngùn ngụt...).
  3. Quá trình vận động của lửa và của vật đang cháy (cháy, tắt, thiêu hủy, đốt cháy...).
  4. Những hành động của con người với lửa (đốt, thắp, nhen, nhóm, dập tắt...).
  5. Những đối tượng, khái niệm khác có liên quan đến lửa (rơm, dầu, củi, hương, trầm...).

2. Dung lượng ngữ liệu khảo sát thực tế ngoài từ điển được tác giả thu thập như thế nào?

Bên cạnh các cuốn từ điển chuẩn mực, tác giả khảo sát 200 mẫu ngữ liệu có sử dụng ẩn dụ phạm trù lửa ở mỗi ngôn ngữ rút ra từ tác phẩm văn học, website, báo điện tử và lời bài hát. Các mẫu này được mã hóa ký hiệu theo số thứ tự từ P.1 đến P.200 đối với tiếng Pháp (trình bày tại Phụ lục 3) và từ V.1 đến V.200 đối với tiếng Việt (trình bày tại Phụ lục 6).

3. Tác giả áp dụng quy cách dịch ngữ liệu tiếng Pháp sang tiếng Việt như thế nào để phục vụ phân tích ẩn dụ?

Tác giả thiết lập hai phiên bản dịch đặt trong ngoặc đơn và ngăn cách bằng dấu gạch chéo /: Phiên bản 1 dịch sát nghĩa từng từ một (mot à mot) nhằm thể hiện rõ các từ ngữ thuộc phạm trù lửa; Phiên bản 2 diễn đạt lại ý nghĩa ẩn dụ trong ngữ cảnh tiếng Việt (ví dụ: Vins qui ont encore assez de feu dịch là: Rượu vẫn còn đủ lửa / Rượu vẫn còn vị nồng).

4. Vì sao tác giả sử dụng ký hiệu > < để miêu tả ánh xạ thay vì chỉ dùng từ "LÀ" hoặc động từ "TO BE"?

Theo tác giả, George Lakoff biểu đạt miền nguồn và đích kết nối qua động từ "TO BE" (như LOVE IS A JOURNEY), các nhà Việt ngữ học thường dịch thành từ "LÀ" (như HÔN NHÂN LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH). Tuy nhiên, do từ "LÀ" trong tiếng Việt không tương ứng hoàn toàn với động từ "TO BE" trong tiếng Anh nên dễ gây hiểu nhầm; vì vậy trong một số trường hợp tác giả dùng ký hiệu > < để thể hiện ánh xạ hai miền (ví dụ: THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT > < LỬA).

5. Từ "feu" trong tiếng Pháp được tác giả phân tích gồm những nét ý niệm cơ bản nào?

Từ feu trong tiếng Pháp được xác lập gồm 4 nét nghĩa: (1) Sự đốt cháy mạnh mẽ giải phóng nhiệt và ánh sáng; (2) Sự nổ súng, hỏa lực quân sự; (3) Ánh sáng; (4) Cảm giác, cảm xúc nóng bỏng. Trong đó, có 3 ý niệm điển hình tạo nên các mô hình chuyển di ẩn dụ là: Feu là sự cháy, Feu là nguồn phát ra ánh sáng và Feu là sức nóng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Lâm Thi là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm của phạm trù lửa trong tiếng Pháp và tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Bằng việc kết hợp phương pháp thống kê định lượng trên ngữ liệu từ điển và phương pháp phân tích định tính mô hình ánh xạ tri nhận trên 400 ngữ liệu đời sống văn học, luận án đã tái lập có hệ thống các cấu trúc chuyển di từ miền nguồn lửa sang các miền đích con người, xã hội và tự nhiên. Công trình đã chỉ ra những điểm tương đồng mang tính phổ quát nhân loại cũng như những nét dị biệt mang dấu ấn loại hình ngôn ngữ và văn hóa dân tộc giữa hai cộng đồng ngôn ngữ Pháp - Việt. Các kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho lý luận ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật liên văn hóa.