5 luận án tiến sĩ lịch sử đảng cộng sản việt nam lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2015

Luận án tiến sĩ nghiên cứu 5 luận án tiến sĩ lịch sử đảng cộng sản việt nam lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Trường Đại Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2015

204
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Những nghiên cứu về dân chủ, thực hiện dân chủ ở một số nước trên thế giới

1.1.2. Những nghiên cứu về dân chủ, thực hiện dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam

1.1.2.1. Những nghiên cứu chung về dân chủ, thực hiện dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở trên phạm vi cả nước

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam

Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1998-2015 đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở. Đảng đã đưa ra nhiều chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, quản lý và điều hành của chính quyền. Việc lắng nghe ý kiến của Nhân dân trong xây dựng các chương trình phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh là một trong những điểm nhấn quan trọng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế như tình trạng nhũng nhiễu, phiền hà từ một số cán bộ, công chức. Điều này cho thấy cần có sự cải cách hành chính mạnh mẽ để đảm bảo quyền lợi của Nhân dân.

1.1. Chính sách lãnh đạo và thực hiện quy chế

Chính sách lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã được thể hiện qua nhiều chỉ thị và nghị quyết. Đặc biệt, Chỉ thị 30-CT/TW năm 1998 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ. Đảng đã chỉ đạo thành lập các Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở các cấp, nhằm đảm bảo sự tham gia của Nhân dân trong quá trình quản lý nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục, như việc công khai thông tin chưa đầy đủ và chưa thực hiện đúng quy trình lấy ý kiến của Nhân dân.

II. Đánh giá thực trạng thực hiện quy chế dân chủ

Thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong giai đoạn 1998-2015 cho thấy nhiều thành tựu đáng ghi nhận, nhưng cũng không ít hạn chế. Việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được triển khai, nhưng còn nhiều khâu hình thức. Nhiều địa phương chưa thực hiện đúng quy trình lấy ý kiến của Nhân dân, dẫn đến sự thiếu tin tưởng từ phía người dân. Hơn nữa, sự thờ ơ và thụ động của Nhân dân trong việc thực hiện quyền làm chủ của mình cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Những thành tựu và hạn chế

Trong giai đoạn này, Đảng đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thực hiện Quy chế dân chủ. Tuy nhiên, những hạn chế như tình trạng khiếu kiện đông người, chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra. Điều này cho thấy cần có sự cải cách mạnh mẽ trong công tác lãnh đạo và quản lý của Đảng để nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ. Việc nghiên cứu và đánh giá đúng ưu điểm, hạn chế sẽ giúp Đảng có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp hơn.

III. Kinh nghiệm và bài học từ thực tiễn

Nghiên cứu về Quy chế dân chủ cơ sở từ năm 1998 đến 2015 đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu cho việc lãnh đạo của Đảng. Việc lắng nghe ý kiến của Nhân dân, cải cách hành chính, và nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo là những yếu tố quan trọng. Đặc biệt, việc phát huy vai trò của Nhân dân trong quản lý nhà nước cần được chú trọng hơn nữa. Những bài học từ thực tiễn sẽ là cơ sở để Đảng tiếp tục hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả lãnh đạo trong giai đoạn mới.

3.1. Những bài học kinh nghiệm

Một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng là cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và Nhân dân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ. Việc tổ chức các cuộc họp, hội thảo để lắng nghe ý kiến của Nhân dân sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của chính quyền. Đồng thời, cần có các biện pháp cụ thể để xử lý những cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu, phiền hà, nhằm tạo niềm tin cho Nhân dân.

IV. Đề xuất giải pháp cho giai đoạn tiếp theo

Để nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong giai đoạn tiếp theo, cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ. Đảng cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách, quy định liên quan đến Quy chế dân chủ. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền và nghĩa vụ của Nhân dân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ. Việc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cũng là những yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lợi của Nhân dân.

4.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cần tập trung vào việc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo, quản lý của chính quyền. Cần có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức về thực hiện Quy chế dân chủ. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi của Nhân dân được thực hiện đầy đủ và đúng quy định.

01/03/2025
5 luận án tiến sĩ lịch sử đảng cộng sản việt nam lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về hệ thống chính quyền cơ sở và tổ chức tự quản ở nông thôn Trung Quốc. Chương 2: Việc thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc. Chương 3: Thành tựu, những vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết trong việc thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc. Tác giả nghiên cứu hệ thống chính quyền cơ sở, tổ chức tự quản ở nông thôn Trung Quốc và vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc.

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế, các vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã. Philip Cam (2006), “Toàn cầu hóa và dân chủ” [11], tác giả chỉ rõ vấn đề chính trị - xã hội đang đặt ra trước mắt và bàn về cách mà chúng ta có thể liên hệ với vấn đề kinh tế. Bài viết trình bày tiêu chuẩn đánh giá thái độ của người tham gia vào nền kinh tế toàn cầu theo nghĩa là các nguyên tắc cho sự chuyển đổi xã hội - chính trị dưới khẩu hiệu dân chủ. Nền kinh tế toàn cầu không thể hiện rõ là một sức mạnh không thể cưỡng lại đối với dân chủ và cũng không thể hiện rõ dân chủ là cái cần đến nhất trong một nền kinh tế bị điều khiển bởi thị trường đang ngày càng thống trị thế giới.

Tuy nhiên, dưới hình thức nào đó, chúng ta đang chứng kiến sự mở rộng của dân chủ mà ở đó đã có nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng. 12 Thomas Meyer và Nicole Breyer (2007), The future of social democracy (Tương lai của nền dân chủ xã hội) đã được Trần Danh Tạo và Ngô Lan Anh dịch [168], tác giả chỉ rõ công bằng xã hội có vai trò như thế nào đối với nền dân chủ hiện đại, nền dân chủ ấy dựa trên những quyền cơ bản nào, nó có ý nghĩa như thế nào đối với sự ổn định và hiệu quả của xã hội và chỉ ra các quyền cơ bản của con người và đối tượng thực hiện dân chủ trên tất cả các lĩnh vực. Theo cách nhìn nhận này, dân chủ tân tự do có thể được coi là một dạng không hoàn thiện, vì sự khiếm khuyết về cơ cấu thống trị, khi không đảm bảo được cơ hội bình đẳng cho các nhóm lợi ích kinh tế và xã hội tác động vào tiến trình chính trị…Tuy nhiên, tác giả vẫn khẳng định rằng, toàn cầu hóa không làm mất đi cơ sở của dân chủ xã hội, tương lai của nền dân chủ xã hội và khẳng định: “Dân chủ xã hội không chỉ là một đòi hỏi nhằm cải thiện cuộc sống của con người mà còn đảm bảo quyền thực thi các quyền cơ bản của họ” [168, tr.Davletshina (2009), Democratic regime: State and society (Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội) [166], được Phạm Nguyên Trường dịch, đưa ra khái niệm dân chủ, ý nghĩa khái niệm dân chủ và chỉ rõ quan điểm về dân chủ của các luật sư, nhà hoạt động chính trị đều cho rằng dân chủ là chính quyền của dân, do dân, vì dân. Xây dựng nhà nước pháp quyền là quy phạm pháp luật nhằm thực thi chủ quyền của nhân dân trong khuôn khổ tổ chức nhà nước; nghĩa là tất cả quyền lực đều nằm trong tay nhà nước.

Nhưng quyền lực đó được đặt lên trên cơ sở và thực thi theo những quy phạm pháp lí đã được ghi thành luật và được nhân dân thừa nhận. Sự phát triển của dân chủ trong lịch sử ở các bang của Hy Lạp cổ đại cho đến dân chủ trực tiếp từng tồn tại ở các nước như tại nước Nga xa xưa. Tống Đức Thảo, Bùi Việt Hương (Đồng chủ biên, 2011), Trào lưu xã hội dân chủ ở một số nước phương Tây hiện đại [127]. Trào lưu xã hội dân chủ có ảnh hưởng mạnh mẽ và các đảng dân chủ xã hội, có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị châu Âu, đặc biệt là các nước Tây Âu.

Nội dung cuốn sách đã khái quát trào lưu xã hội dân chủ, nguồn gốc nội dung, bản chất của trào lưu 13 xã hội dân chủ và sự điều chỉnh cơ bản của trào lưu dân chủ xã hội trong bối cảnh quốc tế đương đại. Các tác giả đã bàn đến những ảnh hưởng của trào lưu xã hội dân chủ ở các nước phương Tây, những giá trị và hạn chế của trào lưu xã hội dân chủ và ảnh hưởng của trào lưu này đối với Việt Nam. Qua đó, đã tác động đến nhận thức của một bộ phận Nhân dân khi so sánh việc thực hiện QCDC ở cơ sở ở Việt Nam với xu thế của một số nước trên thế giới bị ảnh hưởng bởi trào lưu dân chủ ở một số nước phương Tây. Vũ Công Giao (2014), “Dân chủ trực tiếp trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam” [56], nêu: “Trong thực tế, không có quốc gia nào hiện chỉ áp dụng dân chủ đại diện mà loại trừ dân chủ trực tiếp và ngược lại” [56, tr.

Có thể khái quát dân chủ trực tiếp có những ưu điểm: Nêu ra các vấn đề quan trọng với toàn thể hoặc một bộ phận dân chúng mà cơ quan nhà nước không để ý hoặc muốn giấu đi; cho phép nhân dân lấy lại quyền lực của mình từ các đảng phái chính trị hoặc từ những quan chức được bầu ra để bảo đảm việc thực thi quyền lực đó vì lợi ích của đa số công chúng chứ không phải vì lợi ích của một nhóm hay một cá nhân trong xã hội; cho phép nhân dân quyết định và kiểm soát con đường phát triển của đất nước; thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội… Nghiên cứu những tài liệu này giúp cho nghiên cứu sinh có cách nhìn đầy đủ hơn và toàn diện hơn về dân chủ, thực hiện dân chủ cả góc độ lý luận và thực tiễn; các mô hình dân chủ ở một số quốc gia trên thế giới, từ phạm vi, mục tiêu và phương pháp tổ chức thực hiện, mối quan hệ giữa dân chủ với đời sống chính trị; các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới thực hiện dân chủ ở các quốc gia. Những nghiên cứu về dân chủ, thực hiện dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam 1. Những nghiên cứu chung về dân chủ, thực hiện dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở trên phạm vi cả nước Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo (1991), Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa [100], chỉ ra bản chất của nền dân chủ XHCN là “Một nền dân chủ 14 khác hẳn với dân chủ tư sản bởi dân chủ XHCN là dân chủ thuộc về số đông, hơn thế, dân chủ còn là kết quả của đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội do quần chúng nhân dân thực hiện như một hành vi giải phóng để đạt đến tự do và trở thành tự do” [100, tr. Khi bàn đến nền dân chủ tư sản, các tác giả khẳng định: “Nền dân chủ tư sản không phải là của đa số nhân dân lao động, không phải là nền dân chủ của dân, vì dân, do dân mà chỉ là dân chủ tư sản, vì giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản, dân chủ của thiểu số giai cấp này” [100, tr.

Như vậy, đã có sự so sánh để thấy được tính ưu việt của nền dân chủ XHCN. Đối với Việt Nam, các tác giả cho rằng: “Dân chủ hóa trên các lĩnh vực ở Việt Nam là vấn đề cấp bách. Nhưng dân chủ hóa muốn được đảm bảo cần phải có pháp luật tức dân chủ hóa là thực hiện pháp luật dân chủ hóa đồng thời là pháp chế hóa xã hội” [100, tr. Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (Đồng chủ biên, 2003), Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay [116], cuốn sách được rút ra từ những kết quả khảo cứu, nghiên cứu của tập thể tác giả tiến hành ở nhiều địa phương trên cả ba miền đất nước và có tham khảo kinh nghiệm ở một số nước.

Qua đó, chính quyền cơ sở đã tích cực thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, nhiều nơi đã triển khai QCDC cơ sở có hiệu quả cùng Nhân dân làm nên những thành tựu đổi mới trong phát triển kinh tế làm thay đổi bộ mặt nông thôn và thành thị. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, chính quyền cơ sở còn bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém trong công tác lãnh đạo, tổ chức và vận động Nhân dân. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất đoàn kết, vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân còn xảy ra ở nhiều nơi, QCDC cơ sở chưa được triển khai đầy đủ, có nơi chưa đi vào cuộc sống. Trần Ngọc Khuê, Lê Kim Việt (Chủ biên, 2004), Tâm lý xã hội trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở [75], đã tổng quan các yếu tố tâm lý xã hội trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở; phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý xã hội với quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở; đề ra một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng, phân tích các yếu tố tâm lý xã hội cần chú ý trong quá 15 trình thực hiện QCDC ở cơ sở, chỉ ra các yếu tố chủ yếu như vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền; về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; về tâm lý xã hội nói chung; nhận thức của đội ngũ cán bộ cơ sở; phong cách của người lãnh đạo quản lý cấp cơ sở; mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích trong triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở; vấn đề xây dựng quy ước, hương ước; tác động của tâm lý làng xã; tâm lý của phụ nữ nông thôn; tâm lý tôn giáo; những giải pháp thực hiện QCDC ở cơ sở.

Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), “Toàn cầu hóa hiện nay và vấn đề dân chủ hóa đời sống xã hội” [23], tác giả cho rằng: Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, nó tác động mạnh đến quá trình dân chủ hóa trong lĩnh vực tài chính và vốn đầu tư quốc tế. Toàn cầu hoá hiện nay đang diễn ra với những nét khác biệt hết sức lớn so với các giai đoạn trước mà nhân loại đã từng chứng kiến, với năm yếu tố: Một là, phản ánh xu thế khách quan, tiến lên của lịch sử nhân loại. Hai là, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ba là, kết quả của sự phát triển mang tính đột biến của khoa học và công nghệ cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

5 Luận Án Tiến Sĩ Về Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Cơ Sở (1998-2015) là một tài liệu chuyên sâu phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ năm 1998 đến 2015. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các cơ chế, chính sách mà còn đánh giá hiệu quả thực tiễn của quá trình này, mang lại cái nhìn toàn diện về sự phát triển dân chủ ở cấp cơ sở tại Việt Nam. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến chính trị, quản lý nhà nước và sự phát triển xã hội.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, một tài liệu cung cấp thêm góc nhìn về các nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực khoa học xã hội. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học đăng lý và quản lý hộ tịch trên địa bàn xã phượng cách huyện quốc oai thành phố hà nội cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về quản lý hành chính và pháp luật. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn tỉnh lào cai sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về các vấn đề xã hội và pháp lý. Hãy nhấp vào các liên kết để khám phá thêm!