mở đầu cung cấp những kiến thức cơ bản về giao tiếp như khái niệm giao tiếp, các loại hình giao tiếp, cấu trúc hoạt động giao tiếp, các phương tiện giao tiếp. Mục tiêu: Học xong chương này người học có khả năng: - Kiến thức + Người học hiểu rõ các kiến thức cơ bản về giao tiếp như khái niệm giao tiếp, các loại hình giao tiếp, cấu trúc hoạt động giao tiếp, các phương tiện giao tiếp. - Kỹ năng + Người học phân biệt được các loại hình giao tiếp, mô tả được cấu trúc của hoạt động giao tiếp, nhận diện và có khả năng sử dụng các phương tiện giao tiếp. - Thái độ + Tinh thần học tập nghiêm túc + Khả năng nghiên cứu về đề tài giao tiếp.Nội dung chính: 1.
Khái niệm giao tiếp, các loại hình giao tiếp 1. Khái niệm Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa người với người hoặc giữa người với các yếu tố xã hội nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tri giác và tác động qua lại. Khía cạnh giao lưu của giao tiếp gắn liền với việc tìm hiểu những đặc điểm đặc thù của quá trình trao đổi thông tin giữa hai bên giao tiếp với nhau có tính đến cả mục đích, tâm thế và ý định của nhau.
Khía cạnh tri giác của giao tiếp bao hàm quá trình hình thành hình ảnh về người khác, xác định được các phẩm chất tâm lý và đặc điểm hành vi về người đó (thông qua các biểu hiện bên ngoài). Trong khi tri giác người khác cần chú ý tới các biểu hiện như: ấn tượng ban đầu, hiệu ứng cái mới, sự điển hình hoá. Một khía cạnh quan trọng khác của giao tiếp là tác động qua lại giữa hai bên. Trong trường hợp này, ngôn ngữ thống nhất và cùng hiểu biết về tình huống, hoàn cảnh giao tiếp là điều kiện cần thiết đảm bảo qua lại đạt hiệu quả.
Trong hoạt động kinh doanh, nhà quản lý phải giao tiếp với nhân viên để truyền đạt nhiệm vụ, động viên, khuyến khích họ thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Nhà quản lý cũng cần thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính quyền nhằm tạo điều kiện cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả. Nhà kinh doanh phải giao tiếp với khách hàng, bạn hàng, với các đối tác khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau: thuyết phục người ta mua, bán hàng, thương lượng trong hợp đồng.Chính vì vậy một trong những phẩm chất hết sức cần thiết của nhà doanh nghiệp đó là khả năng giao tiếp hoàn hảo. Các loại hình giao tiếp.
Có nhiều cách phân loại giao tiếp theo những tiêu chí khác nhau: Tiêu chi phân loại Loại hình giao tiếp cơ bản 1. Căn cứ vào nội dung tâm - Giao tiếp nhằm thông báo những thông tin mới lý của giao tiếp - Giao tiếp nhằm thay đổi hệ thống động cơ và giá trị - Giao tiếp nhằm kích thích, động viên hành động 2. Căn cứ vào đối tượng - Giao tiếp liên nhân cách ( giữa 2-3 người với nhau) hoạt động giao tiếp - Giao tiếp xã hội( giao tiếp giữa một người với một nhóm người - lớp học, hội nghị) - Giao tiếp nhóm ( một tập thể nhỏ để thực hiện hoạt động chung). Căn cứ vào tính chất tiếp - Giao tiếp trực tiếp: các đối tượng của giao tiếp trực tiếp xúc gặp gỡ nhau, thường dùng ngôn ngữ nói để biểu cảm, là loại hình giao tiếp có hiệu quả nhất.
- Giao tiếp gián tiếp: thông qua các phương tiện trung gian như thư từ, sách báo, điện thoại, truyền hình,. thường kém hiệu quả nhưng tính pháp lý cao hơn và tiện cho việc lưu giữ hồ sơ, tài liệu. Căn cứ vào hình thức của - Giao tiếp chính thức: được ấn định theo pháp luật, chiếm giao tiếp tỷ lệ cao trong công tác quản lý. - Giao tiếp không chính thức: không theo quy định nào cả, nặng mang tính chất cá nhân, cũng hay được sử dụng trong quản lý.
Căn cứ vào tâm thế giữa - Giao tiếp ở thế mạnh. hai bên trong giao tiếp. - Giao tiếp ở thế yếu. - Giao tiếp ở thế cân bằng.
Căn cứ vào thái độ và - Giao tiếp kiểu Thắng - Thắng: mọi người đều mong muốn sách lược giao tiếp tìm kiếm lợi ích chung, làm cho các bên tham gia đều thoả mãn nhu cầu của mình. - Giao tiếp kiểu Thắng - Thua: ngược lại với kiểu Thắng - Thắng, mục đích chủ yếu là lấn át, đè bẹp đối phương. - Giao tiếp kiểu Thua - Thắng: làm hài lòng đối phương bằng cách nhân nhượng vô nguyên tắc. - Giao tiếp theo kiểu Thua - Thua: hai bên đều chọn kiểu Thắng - Thua trong giao tiếp, kiên quyết giữ vững lập trường, kết quả là Thua - Thua.
Căn cứ vào đặc điểm của - Giao tiếp sư phạm. hoạt động cá nhân, tổ chức - Giao tiếp ngoại giao. (cơ quan, doanh nghiệp) - Giao tiếp kinh doanh.1: Phân loại các hoạt động giao tiếp 3 2. Cấu trúc của hoạt động giao tiếp Trong khi giao tiếp con người đồng thời tiến hành 3 quá trình có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là quá trình (trao đổi thông tin), nhận thức và tác động qua lại lẫn nhau.
Quá trình trao đổi thông tin trong giao tiếp Giao tiếp trước hết là một quá trình trao đổi thông tin giữa những chủ thể với nhau. Về phương diện nào đó, giao tiếp có thể được coi như quá trình phát và nhận thông tin giữa các bên giao tiếp với nhau. Giao tiếp là một quá trình thông tin hai chiều, có nghĩa là không có sự phân cực giữa một bên là người phát và một bên là người nhận thông tin, mà cả hai đều là chủ thể tích cực, luôn đổi vai cho nhau. Nội dung thông tin có thể là các quan điểm, ý kiến, sở thích, nhu cầu, tâm trạng, tình cảm.Quá trình trao đổi thông tin trong giao tiếp diễn ra có hiệu quả hay không phụ thuộc vào người phát, người nhận thông tin và nhiều yếu tố khác trong quá trình truyền thông.
Quá trình truyền thông trong giao tiếp được thể hiện bằng sơ đồ: 2. Quá trình nhận thức lẫn nhau trong giao tiếp Khi giao tiếp các bên không chỉ truyền thông tin cho nhau, mà còn nhận thức, tìm hiểu lẫn nhau. Nhận thức là cơ sở làm này sinh tình cảm, và tương tác giữa các chủ thể giao tiếp. Nhận thức có đúng đắn, sâu sắc thì tình cảm mới ổn định và bền vững.
Đối tượng nhận thức trong giao tiếp có thể là người khác, có thể là bản thân mình. Nhận thức người khác Trong khi giao tiếp trước hết là các chủ thể tri giác lẫn nhau. Tri giác là quá trình nhận thức đối tượng giao tiếp bằng con đường cảm tính thông qua các giác quan (thị giác, thính giác.): quan sát tướng mạo, vẻ mặt, dáng điệu, tư thế, tác phong, cách ăn mặc, trang điểm, ánh mắt, nụ cười, lời nói và các hành vi khác nhau.Sự tri giác đó được diễn ra trong suốt quá trình giao tiếp. Trên cơ sở những tài liệu tri giác đem lại tư duy người ta phán quyết về bản chất bên trong của đối tượng như đạo đức, năng lực và các phẩm chất nhân cách khác.
Như vậy nhận thức người khác là bao gồm tri giác những đặc điểm bên ngoài và sự phán đoán về bản chất bên trong. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng và đôi khi làm sai lệch nhận thức của một người về người khác. Các yếu tố này có thể xuất phát từ chủ thể nhận thức, đối tượng nhận thức và tình huống trong đó nhận thức diễn ra. Sự nhận thức về bản thân (tự nhận thức) Trong giao tiếp, không những chúng ta nhận thức người khác mà còn nhận thức, khám phá bản thân mình.
Chỉ khi giao tiếp với người khác thì chúng ta mới hiểu được 4 chính bản thân mình. Khả năng nhận thức người khác và sự tự nhận thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Tự nhận thức bản thân càng chính xác, phong phú bao nhiêu thì việc nhận thức người khác cũng phong phú và chính xác bấy nhiêu và ngược lại, nhận thức người khác càng đầy đủ, càng sâu sắc, thì tự nhận thức sẽ trở nên càng đầy đủ hơn. Tự nhận thức là quá trình mà trong đó mỗi chúng ta xây dựng cho mình một khái niệm hay hình ảnh về bản thân. Việc tạo ra hình ảnh bản thân là rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng quyết định đến hành vi của mỗi chúng ta trong giao tiếp.
Chúng ta có những xử sự như thế nào là tùy vào chúng ta tự đánh giá mình như thế nào. Hình ảnh bản thân là cách mà chúng ta hình dung về mình như thế nào. Nó biểu hiện bản chất cũng như việc làm của chúng ta. Hình ảnh bản thân là hình ảnh quy chiếu mà chúng ta soi theo đó để hành động.
Quá trình hình thành hình ảnh bản thân được diễn ra trong sự giao tiếp với người khác, tùy thuộc vào người khác đánh giá và đối xử với mình như thế nào. Qua sự tương tác với họ, mà chúng ta biết mình như thế nào, được công nhận hay bị từ chối, được coi trọng hay bị xem thường, có năng lực hay không có năng lực. Giữa giao tiếp và sự hình thành hình ảnh bản thân có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Thông qua giao tiếp mà chúng ta hình thành khái niệm về bản thân và ngược lại ý nghĩ, cách tự đánh giá về mình sẽ ảnh hưởng tới lời nói, việc làm và mối quan hệ của chúng ta.
Cửa sổ Johari và mối quan hệ giữa nhận thức và tự nhận thức Cửa sổ Johari là một khái niệm do hai tác giả Joseph Luft và Hary Ingham (Johari là ghép những từ đầu tên hai tác giả) xây dựng để mô tả mối quan hệ nhận thức, tự nhận thức và tính cởi mở, sự phản hồi trong giao tiếp. Cửa sổ này có 4 ô ( khu vực) phụ thuộc vào mức độ những gì mà mình tự biết về mình và những gì mà người khác biết về ta. Tự nhận biết Không nhận biết được mình (I) (II) Người khác nhân Khu vực tự do hoặc mở Khu vực biết được về ta (CHUNG) MÙ (III) (IV) Ngưòi khác không Khu vực bí mặt Khu vực nhận biết được về ta (RIÊNG) KHÔNG NHẬN BIÊT ĐUƠC Hình 1.2: Cửa sổ Johari - Khu vực I: khu vực CHUNG hay còn gọi là khu vực tự do hoặc mở tương ứng với những gì chúng ta biết về mình và người khác cũng biết về chúng ta. - Khu vực II: khu vực MÙ tương ứng với những gì mà chúng ta không biết được về mình, nhưng người khác lại biết về ta.