Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương này trình bày các lý do, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng cũng như phạm vi, phương pháp nghiên cứu của đề tài và cấu trúc bài nghiên cứu. - Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Nêu các khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu. Đồng thời, nêu các kết quả thực nghiệm của những bài nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề khởi nghiệp, từ đó rút ra nhận xét, so sánh, đề xuất mô hình và giả thuyết cho đề 4 Luan van tài nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày các phương pháp luận, bao gồm các bước quy trình nghiên cứu.
thiết kế bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu, xây dựng thang đo cho các biến số. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày phân tích dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu, thảo luận kết quả nghiên cứu. - Chương 5: Kết luận, giải pháp và kiến nghị Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiến của đề tài và đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 5 Luan van CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương 2 tác giả trình bày tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trước đây nhằm có cái nhìn bao quát chung tương đối để có thể đánh giá được những hướng tiếp cận của các tác giả đi trước đã tiến hành qua nhiều giai đoạn, cũng như để định hướng cho nghiên cứu của đề tài được thực hiện và tiếp cận theo hướng từ phía đối tượng có sự trì hoãn nhằm đạt hiệu quả hơn. Khái niệm trì hoãn và một số nghiên cứu về trì hoãn Khái niệm trì hoãn (Procrastination) Procrastination có nguồn gốc từ động từ “procrastinare” trong tiếng Latinh.
Do đó, nguồn gốc của thuật ngữ này cho thấy trì hoãn mang ý nghĩa “ủng hộ ngày mai”. Trì hoãn là một trong những hiện tượng phổ biến ở con người. Tuy nhiên, cho đến nay, cách hiểu về trì hoãn trong các nghiên cứu tâm lý học vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu (Ferrari, Johnson, & McCown, 1995; Klingsieck, 2013a; Schraw, Wadkins, & Olafson, 2007). Trì hoãn (hay còn có những cách gọi khác với nghĩa tương tự là tính chần chừ, hay thói lề mề, sự lần lữa, thói rề rà, ù lỳ) là thuật ngữ trong tâm lý học chỉ về những thói quen của con người có xu hướng để chậm lại, tự hoãn lại, chưa muốn bắt tay vào làm ngay một công việc phải làm, hoặc có tâm lý chờ và để một thời gian sau đó mới thực hiện.
Trì hoãn còn là việc lảng tránh những việc lẽ ra cần phải được tập trung giải quyết ngay dẫn đến việc đó luôn bị hoãn lại, ngưng trệ, chậm trễ tiến độ đề ra thậm chí là lãng quên. Trì hoãn cũng chỉ về việc sự thay thế các công việc, việc làm có mức độ ưu tiên cao hơn với các bằng những việc làm, công việc có mức độ ưu tiên thấp hơn và dành nhiều thời gian cho việc giải quyết các công việc có mức độ quan trọng, mức độ ưu tiên thấp, hay là sự ưu tiên làm những việc mà bản thân yêu thích hoặc cảm thấy thoải mái hơn là những việc quan trọng, cần phải làm. Trong khi một số nhà nghiên cứu cho rằng sự đa dạng trong cách hiểu về trì hoãn sẽ góp phần làm rõ hiện tượng này (Steel, 2007) thì nhiều nhà nghiên cứu khác lại đánh giá sự thiếu thống nhất sẽ gây ra những hạn chế trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và can thiệp đối với hiện tượng trì hoãn (Ferrari và c., 1995; Klingsieck, 2013a; Schraw và 6 Luan van c. Khi không có một khái niệm thống nhất, kết quả từ các nghiên cứu về trì hoãn khó có thể được đem ra so sánh và tổng hợp nhằm hình thành các lý thuyết nền tảng, các công cụ đo lường có hiệu lực và những cách can thiệp có hiệu quả (Klingsieck, 2013a).
Do đó, trong khi sự khác biệt trong cách hiểu về trì hoãn giữa các nhà nghiên cứu có thể bổ sung cho nhau để làm rõ hiện tượng này (Steel, 2007) thì nghiên cứu về trì hoãn vẫn cần phải hướng tới một khái niệm chung, được chấp nhận rộng rãi (Ferrari và công sự, 1995; Klingsieck, 2013a). Khái niệm trì hoãn trong học tập Việc trì hoãn công việc không chỉ khiến việc học tập không đạt hiệu quả cao nhất mà còn có thể tạo thành một thói quen có hại cho giới trẻ sau này. Hậu quả của thói quen xấu này là công việc trở nên quá tải, khiến người ta vội càng dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng công việc cũng như việc quản lý thời gian của bản thân. Chúng ta ít nhiều gì cũng đã từng trì hoãn.
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng vấn đề này thực sự rất phổ biến trong giới học sinh sinh viên. Xấp xỉ 25% đến 75% sinh viên có thói quen trì hoãn trong việc học. Một nghiên cứu năm 2007 đã phát hiện ra có đến 80 đến 95% sinh viên “đợi nước đến chân mới nhảy” trong những việc cơ bản nhất như làm bài tập và hoàn thành học phần. Một nghiên cứu năm 1997 cũng cho thấy thói quen trì hoãn là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến việc các ứng viên Tiến sĩ bị chấm rớt cho luận án của mình.
Cụ thể, Piers Steel, giáo sư kinh doanh tại Đại học Calgary, lưu ý trong một nghiên cứu năm 2007: “Sự trì hoãn là vô cùng phổ biến.” “Các ước tính chỉ ra rằng 80 đến 95 phần trăm sinh viên đại học mắc chứng trì hoãn, khoảng 75 phần trăm tự coi mình là kiểu người trì hoãn và gần 50 phần trăm trì hoãn đều đều và gặp rắc rối vì nó”. Nghiên cứu về các tiền đề của sự trì hoãn đã chuyên môn hóa đáng kể. Hệ thống Klingsieck (2013a) nghiên cứu trì hoãn thành bốn quan điểm. Đầu tiên, quan điểm tâm lý học khác biệt hiểu sự trì hoãn như một đặc điểm tính cách liên kết nó với các đặc điểm khác (ví dụ: lương tâm, chủ nghĩa thần kinh) và các biến giống như đặc điểm (ví dụ: chủ nghĩa hoàn hảo, vị tha, lạc quan, trí thông minh).
Thứ hai, quan điểm của tâm lý học động lực và tự nguyện hiểu sự trì hoãn là một thất bại trong động lực và / hoặc ý chí liên quan đến sự trì hoãn với các khía cạnh động lực (ví dụ: động lực nội tại và bên ngoài, tự quyết định, dòng chảy, định hướng mục tiêu, locus của sự kiểm soát, hiệu quả bản thân) và các khía cạnh tự nguyện (ví dụ: tự kiểm soát, kiểm soát hành động, các 7 Luan van vấn đề tự nguyện chung, chiến lược học tập, quản lý thời gian). Thứ ba, quan điểm tâm lý học lâm sàng tập trung vào mức độ trì hoãn có liên quan lâm sàng, liên kết nó với lo lắng, trầm cảm, căng thẳng và rối loạn nhân cách. Cuối cùng, có quan điểm tình huống, gần đây đang trở nên phổ biến hơn. Nó điều tra các khía cạnh tình huống và bối cảnh của sự trì hoãn như đặc điểm nhiệm vụ và đặc điểm của giáo viên.
Những quan điểm mà Beswick et al. Các yếu tố khác: - Thói quen: Sự trì hoãn bắt đầu từ sự lười biếng vì khi có tính lười biếng thì một số người có thể để mọi việc vào một thời điểm khác để thực hiện, và không có nhiều động lực để làm ngay, làm gấp gáp. Thói quen tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật, nổi hứng, bốc đồng trong công việc, lao động, sản xuất cụ thể là: o Chờ khi có hứng o Chờ đúng lúc o Khi có cảm giác bị ép buộc phải làm việc - Sợ, e ngại: Sự trì hoãn cũng xuất phát từ nỗi sợ hãi, lo âu do trì hoãn được coi là một cơ chế để đối phó với sự lo lắng liên quan khi bắt đầu thực hiện một công việc hoặc việc hoàn thành nhiệm vụ được giao hay là thời khắc để ra quyết định, sự lo âu này khiến con người trì hoãn nhất là đối với những người làm việc theo kiểu bốc đồng, ngẫu hứng. Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là sự trì hoãn trong học tập, mô hình trình bày mô hình quan trọng.
Đó là mô hình thuyết về động lực (TMT – Theory of Temporal Motivation) Lý thuyết về động lực (TMT – Theory of Temporal Motivation) Giải thích sự trì hoãn trong học tập với thời gian lý thuyết động lực (TMT). Tất cả các nghiên cứu đều nhất quán kết luận rằng những thất bại trong quá trình tự điều chỉnh là cốt lõi của việc học sự trì hoãn. Chủ đề cơ bản ở mọi khía cạnh và phát hiện nổi bật nhất trong tất cả các nghiên cứu về cả hai cách tiếp cận, định lượng và định tính, rằng sự trì hoãn là một “thất bại cơ bản về khả năng tự điều chỉnh” (Steel, 2007). 8 Luan van TMT tổng hợp hiện tượng này từ quan điểm chiết khấu thời gian (Gröpel và Steel, 2008; Steel và König, 2006; Steel và Weinhardt, 2007).
Lý thuyết tích hợp này kết hợp các cấu trúc cốt lõi đã được xác thực của các lý thuyết động lực chính, cụ thể là tuổi thọ (ví dụ: tính hiệu quả của bản thân), giá trị (ví dụ: tính không thích nhiệm vụ) và độ nhạy thời gian (ví dụ, tính bốc đồng) như là yếu tố dự báo chính của sự trì hoãn. Trong cách diễn đạt tương tự nhất của nó, ba cấu trúc này được tổ chức thành một phương trình: động lực = (tuổi thọ × giá trị) / (1 + sự bốc đồng × sự chậm trễ). Động lực là tăng khi kỳ vọng của một kết quả và quy mô hoặc giá trị của nó tăng. Động lực bị giảm khi sự chậm trễ trước đó và sự bốc đồng của một cá nhân tăng lên (Hình 2.
Mặt khác, sự trì hoãn xảy ra do ưu tiên bị đảo ngược. Một sự cám dỗ gần như hoặc ngay lập tức có sẵn (tức là đường liền nét) kéo hoặc phân tán khỏi ý định trước đây (tức là đường đứt nét). Theo lý thuyết này, sự trì hoãn có nhiều khả năng xảy ra hơn nếu kết quả của một hoạt động (ví dụ: viết tiểu luận) mang lại phần thưởng, thậm chí nhiều phần thưởng, tương lai xa (ví dụ: điểm cao hơn).1: Đảo ngược sự ưu tiên để thực hiện ý định trì hoãn bằng chức năng của việc dành thời gian còn lại cho nhiệm vụ (Dashed’Line) và Temptation (Solid Line) 9 Luan van Hình 2.2: Mô hình thuyết động lực TMT (Nguồn: Steel & cộng sự, 2007) 2.