Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT HẬU HIỆN ĐẠI 1. Tâm thức hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại Để phác thảo những vấn đề cơ bản của lý thuyết hậu hiện, đặc biệt trong phê bình văn học, chúng tôi không thể bỏ qua những nét hình thành và phát triển của khái niệm “hậu hiện đại” cũng nhưng bối cảnh tâm thức hậu hiện đại trong đời sống xã hội và trong những thực hành văn hóa nghệ thuật. Chúng tôi đề cập đến sự ra đời của tâm thức hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại. Tâm thức hậu hiện đại Dựa trên phương pháp tổng hợp, mô tả và phân tích, chúng tôi sẽ trình bày một số điểm chính liên quan đến sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đai.
Điều gì diễn ra ở những thập niên 1980 – thập niên mà nhà văn Linda Lê bắt đầu bước vào hành trình văn nghiệp – liên quan đến đời sống văn hóa xã hội? Thuật ngữ nào có khả năng diễn đạt được môi trường văn hóa ấy nếu không phải là tiền tố “Hậu” (Post-mà trong tiếng Việt tưởng chừng đã quá quen thuộc). Thực vậy, cùng với tiền tố này, đã có nhiều từ mới ra đời trong các ngôn ngữ khác nhau để diễn đạt xã hội “hậu công nghiệp”, “chủ nghĩa hậu tự do”, “hậu sử”, “hậu lí thuyết”,. Tất cả những khái niệm này xuất hiện ở những thập niên 1980 đều có khả năng khớp nối với lĩnh vực rộng lớn hơn mà chúng ta bàn tới, đó là “hậu hiện đại”. Kể từ đây cuộc tranh luận không ngừng xoay quanh khái niệm “chủ nghĩa hậu hiện đại” đã làm tốn nhiều giấy mực.
Michael Köler (1977) được cho là người đầu tiên phác họa lịch sử của khái niệm này trong nghiên cứu của ông về bối cảnh xã hội Mỹ. Ông cho rằng khái niệm hậu hiện đại được nhà sử học người Anh Arnold Toynbee sáng lập năm 1947 trong ý nghĩa của lĩnh vực xã hội và lịch sử; nó dùng để nói đến một sự chuyển đổi trong đời sống văn hóa phương Tây sau giai đoạn khủng hoảng của cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai. Khái niệm sau đó được lặp lại nhiều lần để nêu lên những đặc điểm của văn học Mỹ thời 7 hậu chiến. Trong phê bình văn học, phải đến những năm 1960 nó mới được ứng dụng.
Chúng tôi xin phép không đi vào tranh luận về khái niệm mà chủ yếu trình bảy tổng quan những biểu hiện của văn hóa hậu hiện đại. Đây cũng là cơ sở cần thiết để xác định các yếu tố hậu hiện đại trong văn học. Đó là những biểu hiện về mối quan hệ xã hội và những biểu hiện của chủ thể như là kết quả bắt nguồn từ sự kết dệt của những dấu vết đa dạng mà xã hội tác động để tạo thành từ chủ thể một cá nhân. Những biểu hiện văn hóa ấy cho thấy những nét đặc trưng của xã hội và tâm thức hậu hiện đại, nghĩa là liên quan trực tiếp đến khả năng tưởng tượng của con người trong các lĩnh vực khác nhau.
Chúng góp phần quan trọng làm biến đổi và sản sinh ra thế giới quan. Một trong những nguyên lí chính xuyên suốt tâm thức hậu hiện đại, đó là “tính khác biệt”. Thậm chí người ta còn nói đến một loại triết học về sự khác biệt (Philosophy of Difference). Jacques Derrida đã khai triển một cách sâu rộng ý niệm khác biệt trong triết học của ông và tạo ra từ đó một yếu tố nền tảng cho thực hành giải cấu trúc luận của ông.
Sự xuất hiện của cái khác biệt/ kẻ khác trên diễn đàn học thuật và tư tưởng đã tạo ra dấu ấn của thập niên 1980. Có rất nhiều nhà tư tưởng đã phổ biến nguyên lí khác biệt dưới nhiều lăng kính khác nhau. Những công trình của các nhà tư tưởng như Emmanuel Lévinas, Paul Ricoeur, Jean Baudirllard hay Tzvetan Todorov,. đã minh chứng một tâm thức đi tìm kiếm một chân trời khác biệt.
Cũng vì thế mà nguyên lí khác biệt ra đời kèm theo tinh thần phản ứng chống lại cái trung tâm, cái toàn thể mà cái “đại tự sự” đã áp đặt từ lâu trong tâm thức của con người. Nguyên lí khác biệt đã khơi gợi một hình tượng về hệ thống mà mạng lưới những ý niệm như sự phát tán, thực tại gián đoạn, phân mảnh. Nếu thư tinh thần hiện đại đề cao cái phổ biến và đại thể, thì tâm thức hậu hiện đại khẳng định tính phân tán và khác biệt, mà quy luật của nó là sự bất đồng nhất. Jean-François Lyotard là một trong những nhà tư tưởng chính của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Với tác phẩm Hoàn cảnh hậu hiện đại (1979), ông được xem như là người đầu tiên đã chỉ ra khả năng kết hợp giữa sự phát triển của khoa học 8 đương đại có tính phức tạp với tâm thức hậu hiện đại được điều khiển bởi nguyên lí khác biệt. Hai điều kiện quan trọng để thực hiện, đó là sự bất tương đồng và sự gián đoạn. Nghĩa là khoa học hậu hiện đại bắt đầu tiến hành đặt lại giới hạn của những mô hình đại thể, chẳng hạn như thuyết của Newton, hay các mô hình bắt nguồn từ duy lí của thời kỳ Khai sáng. Khoa học về tính phức tạp đã làm đảo lộn hệ thống có tính chất vận hình theo nguyên lí quyết định luận.
Từ nguyên lí khác biệt, chúng ta hình dung thế nào về hình ảnh chủ thể hậu hiện đại? Văn hóa hậu hiện đại có đặc tính của sự bất ổn, biến đổi hay đúng ra cấu hình xã hội hậu hiện đại luôn ở trong tình trạng chuyển đổi. Nó chắc chắn đặt khái niệm chủ thể con người theo quan niệm hiện đại vào một sự xét lại, bởi vì yếu tố khác biệt đã can thiệp ngay trong chính các hành xử của cá nhân. Như vậy, đã có thể xuất hiện tình trạng xung đột và khủng hoảng của chủ thể hậu hiện đại: “Có một sự chuyển tiếp từ hình ảnh của chủ thể tính hiện đại, duy lí nói trên sang hình ảnh của chủ thể tính đương đại. Chủ thể tính đương đại này không còn mang những đặc tính của chủ thể có những khả năng duy lí, thông suốt, cũng không được giới hạn trong chủ thể có những ưu phẩm về lí trí.
Chủ thể tính đương đại thể hiện những nét đặc trưng của chủ thể bị sáp nhập vào cái vô thức. Hình ảnh chủ thể tính đương đại cho phép chúng ta nhận ra một sự đối lập giữa nguyên lí thấu suốt chính mình và sự hiện hữu mờ đục và dày đặc của con người. Điều đó chứng minh một sự thật rằng hiện tượng lên ngôi của chủ thể hiện đại duy lí nói trên, cùng với dự trình phát triển của nó, đến một mức độ nào đó chỉ là một cách phản chiếu hình thức lệ thuộc sâu kín nhất, đó chính là sự lệ thuộc vào một « hiện tượng phân chẻ đã được cấu thành » trong chính con người” (Phạm Văn Quang, 2018). Chủ thể hiện đại bắt nguồn từ tư tưởng Khai sáng.
Đó là chủ thể toàn diện, thông suốt, cố kết và việc thực hành lí trí như là căn bản, đồng thời với các giá trị nền tảng là tự do và phổ quát. Tuy nhiên, hoàn cảnh xã hội tiêu thụ ngày càng phát triển đã đẩy tiến trình xã hội phổ quát và toàn thể đến xã hội cá nhân luận. Con người cá nhân bắt đầu khép mình vào chính mình và đánh mất ý nghĩa cộng 9 đồng. Ý nghĩa của tự do khác với sự tự do toàn thể của thời kỳ hiện đại, nó là tự do hưởng thụ.
Jean Baubrillard thậm chí nói đến sự hưởng thụ như là một loại hình văn hóa hậu hiện đại. Georges Perec trong tiểu thuyết đầu tiên có nhan đề Sự vật. Lịch sử của những năm sáu mươi, khi viết về hiện tượng sùng bái vật chất, mức độ sừng bái đến nỗi con người trở thành những mảnh vụn của vật chất mà mình tiêu thụ. Chủ thể con người bước vào giai đoạn khủng hoảng.
Những lĩnh vực thực hành của tinh thần hậu hiện đại Hậu hiện đại là một cách nói để diễn đạt tâm thức của con người ở một giai đoạn xáo trộn, “hỗn độn”, bắt nguồn từ tình trạng mất dần lí tưởng tiến bộ được đặt ra trong dự trình của hiện đại. Nghĩa là các cấu hình xã hội và tâm thái của con người đã thay đổi và chắc chắn tác động đến những hoạt động thực hành, đặc biệt trong các lĩnh vực đời sống tinh thần và nghệ thuật. Trong lĩnh vực kiến trúc: Những tham dẫn đầu tiên của hậu hiện đại chính là lãnh vực kiến trúc. Kiến trúc sư người Anh Charles Jenks xuất bản cuốn sách có nhan đề Ngôn ngữ kiến trúc hậu hiện đại (The Language of Post-Modern architecture, 1979).
Ngay ở câu đầu tiên của cuốn sách, ông đã tuyên bố: “Kiến trúc hiện đại đã chết ở Saint Louis, Missouri, ngày 15 tháng 7 năm 1972, vào lúc 15 giờ 32 phút”. Sự kiện quan trọng này có tính tượng trưng. Thực vậy, vào giờ đó, ngày đó, một tổng thể đồ sộ khu nhà ở bị xô đổ và phá hủy. Khu nhà ở xã hội có tên là Pruitt-Igoe.
Gần năm nghìn mét vuông diện tích nhà ở xã hội được xây dựng để cho những người Mỹ nghèo. Hơn nữa, khu tổng thể lớn ấy lại được trợ cấp bởi Hội đồng quốc tế về Kiến trúc hiện đại vào năm 1951. Khu nhà ở xã hội này do kiến trúc sư người Mỹ gốc Nhật Minoru Yamasaki phác họa, công trình hoàn thành vào năm 1956. Nó bao gồm 33 tòa nhà 11 tầng và 2870 căn hộ.
Khu nhà được xây dựng theo những nguyên tắc của lí thuyết chức năng phát xuất từ tư duy hiện đại, vì thế nó giống như các khu nhà khác trên thế giới. 10 Hậu hiện đại trong kiến trúc không muốn áp dụng những nguyên tắc chức năng trong kiến trúc nữa, đặc biệt của Le Corbusier1. Hậu hiện đại kiến trúc muốn cắt đứt với chủ nghĩa hàn lâm hiện đại. Kiến trúc từ chối chủ nghĩa chức năng duy nhất, hậu hiện đại muốn có thể là quá khứ trở về chứ không phải trở về quá khứ.
Kiến trúc hậu hiện đại là điện, là lai tạp. Nó đặt ra những thỏa hiệp và đôi khi rất kỳ dị hay mập mờ, gây sốc hay gây hấn, đôi khi theo quy ước, đôi khi rườm ra dư thừa. Nó từ chối những hình thể thuần túy, hợp lý, theo nhu cầu, gắn kết hay phi nhân cách,… Điều đó chứng tỏ tính chất bất đồng và khác biệt, tính chất phân mảnh và lan tỏa, thể hiện nhãn thức hậu hiện đại. Các bước khởi đầu này vẫn chưa được những người tiên phong thừa nhận.