CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN 1. Một số hiểu biết cơ bản về sữa mẹ và NCBSMHT 1. Một so định nghĩa theo WHO Bú sớm sau sinh là trẻ sơ sinh được bú mẹ ương vòng 1 giờ đầu sau sinh [32]. Bú mẹ hoàn toàn là trẻ chỉ bú mẹ mà không cho ãn, uống bất cứ thức ăn, đồ uổng nào khác kể cả nước trang, trừ các trường họp phải bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc [32].
Bú mẹ chủ yếu trong 6 tháng đầu: bú mẹ là chủ yếu cỏ thể bao gồm một số đô uống, nhưng không phải là sữa ngoài hoặc thức ăn lỏng trong 6 tháng đầu đời của trẻ [32]. Sữa non hay còn gọi tên thông dụng là sữa đầu hay còn được gọi là thức ăn đầu tiên của sự sổng (tên khoa học gọi là Colostrum) là một loại sữa mẹ đặc biệt, một dạng vật chất có màu vàng, đặc dính, xuất hiện vào cuối thời kỳ mang thai và lưu thông qua tuyến vú của người mẹ trong vòng 72 giờ đầu sau khi sinh con và xuất hiện ở hai ngày đầu sau khi sinh con. sữa non có chửa đầy đủ các chất dinh dường cân đối. các kháng thê diệt vi khuần.
vi rút độc hại và các chất điều hòa miễn dịch giúp cho một cơ thể trẻ sơ sinh chống lại bệnh tật. phát ưiển và khỏe mạnh [32], 1. Lợi ích của sữa mẹ Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất đối với trẻ em. Trong sữa mẹ có gân như đây đủ các chất mà một em bé cẩn trong những tháng đầu và đóng góp một phần quan trọng trong sự phát triển của trẻ ở những tháng sau.
Sữa mẹ là mẫu để chế biến các sữa công thức dành cho trẻ không được bú sữa mẹ vì người ta mong muốn trẻ sẽ phát triển giống như một em bé sinh đủ tháng bú mẹ. Cung câp đây đù các chát dinh dưỡng • Đạm 5 Đạm trong sữa mẹ có hàm lượng phù hợp với chức năng thận của trẻ, đồng thời chất lượng gom những acid amin thiết yểu. các loại đạm dễ tiêu hóa và hấp thu. Đạm sữa mẹ có 80% whey (đạm hòa tan chứa nhiêu kháng thê chông bệnh, mau tiêu hóa.
dễ hấp thu) và 20% là đạm casein (đạm không hòa tan. thường có vai trò phát triển khối cơ, hấp thu bị hạn chế ở trẻ càng nhò) trong khi đạm của sữa bò có 18% whey và 82% casein [31], [32], Thành phần các acid amin trong sữa mẹ là chuẩn mực để tạo ra các dung dịch chất đạm dùng trong nuôi tĩnh mạch và một số sản phẩm dùng cho nuôi qua ống sonde trong lĩnh vực y học. • Chất béo Chất béo trong sữa mẹ cũng rất lý tưởng với các acid béo cần thiết cho quá trình phát triên của não và hệ thần kinh cũng như các tế bào trong cơ thể. Các sữa công thức phải cố gang bô sung thêm những chất béo cần thiết này, ví dụ DHA và ARA đề có thể gần với sữa mẹ nhất.
Trẻ cũng có khả năng chống bệnh nhiễm trùng nhờ các kháng thể, các chất chống oxy hóa. các chất bảo vệ chống viêm.mà sữa mẹ cung cấp cho trẻ. đồng thời tránh được nguy cơ dị úng. • Chất bột đường Chất bột đường trong sữa mẹ là lactose, và oligosaccharide có vai trò trong phát triển não cũng như ổn định hệ vi khuẩn ruột, tăng miễn dịch bảo vệ cho cơ thể, chổng táo bón [31], [32], Trẻ bú mẹ thường ít bị bón.
phân thường mềm, có khi hơi lòng, không mùi hoặc mùi hơi chua trong khi trẻ uổng sữa bò sẽ có phân cứng hơn. đóng khuôn, mùi hôi hơn và dễ bị bón. • Vitamin và muối khoáng Ngoài ra trong sữa mẹ có nhiều vitamin và muối khoáng phù hợp với nhu cầu cùa trẻ. Canxi và sat trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn trong sữa công thức.
Các vitamin và một số kháng thể trong sữa mẹ (các kháng thể này không thể có trong sữa công thức) như IgG. lactoferrin, lysozyme, nucleotide.giúp tăng khả năng chống lại bệnh tật, do đó trẻ bú mẹ ít bị bệnh hơn trẻ bú bình. Trong sữa mẹ còn chứa men lipase giúp hấp thu chất béo hiệu quả hơn [31]. 6 Trong sữa mẹ chỉ có 2 chất có thể thiếu, đó là vitamin K.
nhưng thường được bổ sung cho bé vào lúc sinh và vitamin D. vẫn có thể có đủ cho trẻ nếu trẻ được phơi năng thường xuyên. Tăng sức đề kháng và phát triển trí não Trẻ bú sữa mẹ có sức đề kháng và trí thông minh cao hơn trẻ bú bình. Người ta thấy ràng trẻ bú bình có nguy cơ viêm phổi cao gấp 3.9 lần và nguy cơ tiêu chảy cao gấp 17.3 lần trẻ bú mẹ.
Trong sữa mẹ có những acid béo không no đa nối đôi giúp cho não, hệ thần kinh và thị lực của trẻ phát triển tốt hơn. Những trẻ bú mẹ sẽ có sự phát triển của trí tuệ, các giác quan như thinh giác, thị giác, xúc giác,. và ngôn ngữ tôt nhât. Tỉ lệ trẻ bị chàm da, suyễn, tiểu đường type 1, dị ứng thực phẩm.
thậm chí béo phì thấp hơn hẳn ờ nhóm trẻ được cho bú mẹ. Hiện nay, các sữa công thức đang cố gắng bô sung các chất sao cho gần với sữa mẹ nhất và quảng cáo rầm rộ về ưu diêm của các sữa đó, nhưng vẫn không thê băng sữa mẹ. Ngoài ra trẻ bú mẹ có tâm lý cân bàng hơn trẻ bú bình. Khi trẻ sinh ra.
trong cơ thê đã có sẵn một lượng kháng thê mẹ cho qua nhau thai để giúp trẻ chống lại bệnh tật. Sau sinh, kháng thể chổng bệnh này giảm dần một cách nhanh chóng, giảm rất nhiều lúc trẻ 4-6 tháng tuổi và gần như biến mất lúc trẻ 9 tháng. miễn dịch chông bệnh do tự cơ thê trẻ tạo ra còn thâp. và thường chỉ hoàn thiện khi trẻ được 3-4 tuổi.
Bên cạnh đó, trẻ cũng tăng tiếp xúc với nguồn bệnh ở môi trường xung quanh và dề nhiễm khuẩn đường tiêu hóa khi trẻ bắt đầu ăn dặm. Trê bắt đầu mắc các bệnh nhiễm trùng nhiều hơn từ lúc được 4-6 tháng tuôi và sẽ ít bị các bệnh nhiễm trùng hon sau 3-4 tuổi. Các nhiễm trùng ờ đường hô hấp và dị ứng cũng tăng cao hơn. Những trẻ bú mẹ được nhận một lượng kháng thể tiết có trong sữa mẹ (IgA) nên có khả năng chống bệnh tốt hơn, ít bị bệnh cũng như ít dị ứng hơn [31], [32].
Vì vậy, nên cho trẻ bú mẹ càng lâu càng tốt để bảo vệ trẻ. Do lượng canxi trong sữa mẹ de hấp thu nhờ chat a lactabumin và casein phospho peptide giúp vận chuyển canxi tối ưu. do đó trẻ bú mẹ thường có xương cứng chẳc hơn trẻ bú bình. Lợi ích cùa NCBSM NCBSM là cách tối ưu nhàm cung cấp thức ăn lý tưởng cho sự tăng trưởng khỏe mạnh và phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; nó hình thành cơ sở thể chất và tinh thân tôt nhât cho sức khỏe của cả bà mẹ và trẻ em [32].
Lợi ích cho trẻ Sữa mẹ cỏ đủ các chất dinh dưỡng cho trẻ, bao gồm đường, chất béo, đạm. nước với nồng độ cần thiết cho trẻ. đáp ứng đầy đủ nhu cầu của trẻ trong 6 tháng đầu. Cơ thể của trẻ tiêu hóa nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ tốt hơn sữa ngoài.
Sữa mẹ chứa tất cả các chất dinh dưỡng và kháng thể mà bé cần. thúc đay tăng trường và phát triển tối ưu. Sữa mẹ làm giảm nguy cơ bị bệnh tiểu đường và bệnh bạch cầu ở trẻ em, bảo vệ trẻ khỏi sự nhiễm trùng hô hấp. tai và một số bệnh dị ứng như hen suyễn, chàm.
Sữa mẹ còn có vai trò giúp phát triển hệ miễn dịch tự nhiên của bé bàng cách tạo diều kiện cho các vi khuẩn có lợi trong đường ruột phát triển, giúp diệt trừ các vi khuẩn có hại từ đó đẩy lùi nguy cơ nhiễm trùng và bệnh tật.Đối với trẻ sinh thiếu tháng, được nuôi bàng sữa mẹ sẽ phát triển hơn những trẻ được nuôi băng sữa ngoài. trẻ nuôi băng sữa mẹ có chỉ sô thông minh cao hon. Lợi ích cho ngicời mẹ Cho trẻ BSSS giúp xổ rau và tránh mất máu cho bà mẹ. Việc NCBSM giúp bà mẹ tiêu thụ tích cực nguôn năng lượng dự trữ trong lúc mang thai, do đó dề dàng duy trì cân nặng binh thường sau sinh.
Cho trẻ bú sữa mẹ, giúp tử cung người mẹ dề co lại đúng kích thước và giảm chảy máu sau sinh. Cho con bú sữa mẹ còn có tác dụng trì hoãn thời điểm rụng trứng và chu kì kinh nguyệt. NCBSM làm giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư co tử cung và có thể làm giảm nguy cơ loãng xương khi đen thời kì mãn kinh. NCBSM sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc, người mẹ có thể cho con bú bất cứ lúc nào trẻ đói, thỏa mãn được nhu cầu của trẻ.
Hơn nữa, sự tiếp xúc giữa 2 cơ thể khi người mẹ bồng con giúp trẻ tự tin hon, có cảm giác an toàn hơn. Lợi ích cho xã hội khi NCBSM 8 NCBSM giúp tiết kiệm chi phí chăm sóc sức khỏe. Kinh phí cho y tế của một đất nước mà trẻ được BMHT thấp hơn những nước mà trẻ không được BMHT, vì phải tốn chi phí cho khám chữa bệnh. Tình hình cho trẻ BSSS và NCBSMHT trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình thế giới Trên toàn thế giới, chi có hai ừong số năm trẻ sơ sinh được bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, và cùng tỉ lệ với ưẻ dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ. Các dữ liệu cho thấy rằng 74% ưẻ vẫn được bú sữa mẹ lúc 1 tuổi. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra khuyến cáo rằng nên duy tri thực hành cho trẻ bú sữa mẹ tiếp tục cho đến khi trè 2 tuổi và hơn thế nữa, vào thời điểm mà tỳ lệ trè bú mẹ giảm xuống 49%. Mức độ cho con bú của các bà mẹ rất khác nhau giữa các vùng.
Tỷ lệ ưẻ sơ sinh được bú mẹ trong 1 giờ đầu ờ Tây và Trung Phi là 35%, ở Đông và Nam Phi là 60%. về bú sữa mẹ đến khi ưẻ 2 tuổi dao động từ 21% ưong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đến 75% ờ Nam Á [28], [29].