Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Trong bài khoá luận này tác giả trình bày và đƣa ra tổng quan về lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài so với tình hình thực tiễn, xác định mục tiêu nghiên cứu của cả bài, các câu hỏi nghiên cứu chuẩn xác, đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu tiến hành, đồng thời nêu rõ ý nghĩa và kết cấu của từng phần trong đề tài. Chương 2 Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm Trong phần này tác giả trình bày nội dung tổng quan các lý thuyết tổng quan, cơ sở lý luận và kết quả của một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Tác giả đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng khách hàng cá nhân tại VIB chi nhánh TP.
Hồ Chí Minh .Tác giả tiến hành xây dựng thang đo, phƣơng pháp chọn mẫu và phƣơng pháp phân tích dữ liệu. Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Thông qua phần mềm SPSS phiên bản 20.0 nhằm phân tích dữ liệu thu thập, các kết quả phân tích sẽ đƣợc trình bày cụ thể nhằm giải thích, kiểm định giá trị các thang đo, mô hình và giả thuyết nhằm tìm ra các yếu tố và đo lƣờng chính xác mức độ ảnh hƣởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng khách hàng cá nhân tại VIB chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Chương 5 Kết luận và khuyến nghị Tổng quan về kết quả, những nhận định chung và đƣa ra một số hàm ý quản trị cho các bên liên quan.
Đề ra những hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 6 7 CHƢƠNG 2: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM 2.1 Khái niệm thẻ tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến (2009) thì Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Thẻ ngân hàng đƣợc hiểu nhƣ một phƣơng tiện thanh toán đƣợc sử dụng để thực hiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng bên cạnh các phƣơng tiện thanh toán khác nhƣ tiền mặt, séc, ủy nhiệm chi (lệnh chi), ủy nhiệm thu. Với những tính năng ƣu việt nhƣ gọn nhẹ, an toàn, thuận lợi, thẻ ngân hàng đã và đang đƣợc sử dụng khá phổ biến ở nhiều nƣớc trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2009) “Thẻ tín dụng (credit card) là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ. Thông thường, thẻ tín dụng được ngân hàng cấp cho chủ thẻ với một hạn mức nhất định dựa trên việc đánh giá và thẩm định lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng, mức lương hàng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền ký quỹ hay tài sản mà chủ thẻ đảm bảo tại ngân hàng”. Chủ thẻ tín dụng có thể thanh toán bằng thẻ tín dụng tại các website thƣơng mại điện tử của các loại hàng hóa dịch vụ khác nhau, nhờ vào đặc điểm chi tiêu trƣớc, trả tiền sau. Sau đó, đến ngày định kỳ mỗi tháng (tùy thuộc vào quy định của từng ngân hàng) ngân hàng sẽ gửi một bản sao kê cụ thể chi tiết và yêu cầu thanh toán về các khoản chi tiêu trong tháng trƣớc đó của chủ thẻ tín dụng đã sử dụng.
Lúc đó, chủ thẻ có thể lựa chọn thanh toán toàn bộ số tiền trƣớc hoặc chọn thanh toán trong thời hạn ghi trong thông báo. Trong trƣờng hợp chủ thẻ thanh toán đúng thời hạn thì sẽ không phải trả lãi và bất kỳ chi phí phát sinh nào. Thẻ tín dụng thƣờng đƣợc phân hạng nhằm quản lý đối tƣợng khách hàng. Thẻ chuẩn là loại thẻ đƣợc phát hành hƣớng đến các đối tƣợng khách hàng có thu nhập trung bình với đặc điểm là hạn mức tín dụng vừa phải và mức phí thƣờng niên thấp (Nguyễn Thị Diệu Linh, 2020).2 Phân loại thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là khi sử dụng loại thẻ này chủ thẻ đƣợc cấp một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh (cửa hàng, khách sạn, sân bay.) chấp nhận loại thẻ này.
Các chủ thể phát hành thẻ sẽ qui định một hạn mức tín dụng nhất định cho từng chủ thẻ hay nói cách khác chủ thẻ chỉ đƣợc tiêu trong hạn mức đã cho. Hàng tháng, khi nhận đƣợc sao kê (thông báo yêu cầu thanh toán của ngân hàng theo danh sách các khoản chỉ đã thực hiện trong tháng), chủ thẻ chỉ phải thanh toán số tiền họ đã chỉ tiêu, mà không phải trả bất cứ một khoản lãi nào nếu trả đúng hạn quy định. Còn nếu chủ thể không thanh toán đƣợc hết nợ thì sẽ phải trả số tiền còn nợ theo mức lãi suất định trƣớc. Lãi suất này đƣợc xác định tuỳ theo ngân hàng phát hành thẻ.
Phân loại thẻ theo nhu cầu ngƣời sử dụng Thẻ tín dụng mua sắm nội địa là loại thẻ tín dụng chỉ có chức năng hỗ trợ thanh toán trong nƣớc. Khi bạn đi mua hàng ở bất kỳ siêu thị nào hay là mua sắm online thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng đƣợc những chiếc thẻ tín dụng mua hàng trong nƣớc này. Đa phần các dòng thẻ tín dụng chi tiêu nội địa hiện nay đều là thẻ Visa. Thẻ tín dụng du lịch nƣớc ngoài là dòng thẻ tín dụng du lịch nƣớc ngoài mang tính chất quốc tế nhiều hơn.
Loại thẻ này có hạn mức tƣơng đối cao, và chắc chắn là điều kiện làm thẻ tín dụng cũng phức tạp hơn. Khi sử dụng thẻ này thì bạn phải cân nhắc thật kĩ vì bạn sẽ thƣờng xuyên bị tính mức phí giao dịch ngoại tệ cho những khoản giao dịch nƣớc ngoài. Thẻ ghi nợ là muốn đƣợc sở hữu thẻ này khách hàng phải có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Khi giao dịch mua bán, giá trị giao dịch sẽ đƣợc trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn., và đồng thời ghi có vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn đó.
Thẻ ghi nợ còn đƣợc sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động (ATM). Thẻ ghi nợ thƣờng không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dƣ hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ chi tiêu trong phạm vi mình có. Với tính chất nhƣ vậy, thẻ ghi nợ thƣờng đƣợc cấp có số dƣ tài khoản tiền gửi thƣởng xuyên ghi Có.
Tuy nhiên, tuy theo sự thoả thuận của chủ thẻ và ngân hàng phát hành, nếu số dƣ trên tài khoản của chủ thẻ không đủ 9 thanh toán, ngân hàng sẽ cấp cho chủ thẻ một mức thấu chi, thẻ ghi nợ đã giúp cho cá yếu, doanh nghiệp đƣợc cấp một khoản tín dụng ngắn hạn mà không cần làm nhiều thủ tục. Thẻ rút tiền mặt là loại thẻ này đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng. Với chức năng chuyên để rút tiền nên chủ thẻ phải ký quĩ tiền gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ phải đƣợc cấp tín dụng, thấu chỉ mới sử dụng đƣợc. Số tiền rút ra mỗi lần sẽ đƣợc trừ dần vào số tiền ký quỹ.
Trƣớc đây, thẻ rút tiền có hai loại, một là chỉ để rút tiền tại những máy tự động của ngân hàng phát hành, hai là để rút tiền không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn đƣợc sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng khác. Hiện nay hầu hết các loại thẻ của các ngân hàng đều rút đƣợc ở cả các máy rút tiền của ngân hàng phát hành và ngân hàng liên kết với nó, tất nhiên ở trƣờng hợp thứ 2 thƣờng phải chịu một khoản phí nhỏ.3 Vai trò thẻ tín dụng Đối với chủ thẻ, thẻ tín dụng nhờ có các ƣu điểm nhƣ chủ thẻ không cần lên kế hoạch chi tiêu trƣớc, cũng không cần phải trả tiền trƣớc cho ngân hàng, chủ thẻ đƣợc quyền chi tiêu trƣớc rồi trả tiền sau việc này đơn giản hơn so với dùng séc. Nhờ đó, khi sử dụng thẻ tín dụng chủ thẻ sẽ tiết kiệm đƣợc thời gian mua hàng cũng nhƣ thời gian chờ làm các thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt. Bên cạnh đó, thẻ tín dụng cung cấp khoản tín dụng tự động, tức thời.
Khi sử dụng thẻ tín dụng thì khả năng mua hàng sẽ không bị gò bó. Dù việc mua hàng có đƣợc dự tính trƣớc hay không thì thẻ thanh toán cũng là một nguồn tín dụng tự động giúp, cho các chủ thẻ khỏi phải lên ngân hàng xin vay. Ngƣời nào có tâm lý ngại đến ngân hàng xin vay sẽ đánh giá cao tiện ích này. Hơn thế nữa chủ thẻ có thể thanh toán một phần nhỏ và số còn lại chủ thẻ có thể trả sau.
Đối với ngân hàng, thẻ tín dụng là phƣơng tiện tối ƣu để hấp dẫn khách hàng mới. Trong công cuộc cạnh tranh hiện nay, ngoài cách thức thông thƣờng nhƣ giảm lãi suất để thu hút khách hàng (một công cụ quá quen thuộc nhƣng không phải lúc nào cũng thực hiện đƣợc) các ngân hàng còn cố gắng tạo ra các sản phẩm mới để thu hút khách hàng. Lĩnh vực thẻ thanh toán là một lĩnh vực mới sẽ (rất phát triển trong tƣơng lai, nếu ngân hàng nào “tiếp cận” sớm sẽ chiếm đƣợc thị phần lớn và nếu “chậm chân” 10 thì việc gia nhập sẽ rất khó khăn. Thẻ là phƣơng tiện tối ƣu bởi vì nếu khách hàng muốn phát hành thẻ phải mở tài khoản cá yếu tại ngân hàng, khi có tài khoản tại một ngân hàng thì khách hàng hiếm khi chuyển sang một tổ chức đối thủ cạnh tranh, điều này mang lại sự trung thành của khách hàng với ngân hàng.
Ngoài ra, việc áp dụng thẻ tăng thêm thu nhập cho ngân hàng. Thu nhập chính của ngân hàng từ thẻ tín dụng gồm: phí từ cơ sở chấp nhận thẻ, phí từ khách hàng (phí phát hành, phí thƣờng niên, phí chậm thanh toán, phí rút tiền mặt, lãi suất cho vay hiện hành, lãi vƣợt hạn mức tín dụng.) và các khoản thu từ các dịch vụ ngân hàng khác, các khoản đầu tƣ kèm theo. Tỷ lệ lợi nhuận tƣơng đối cao từ kinh doanh thẻ có thể dùng để bù đắp cho những hoạt động kém sinh lời lớn của ngân hàng nhƣ kinh doanh trên tài khoản vãng lai. Bằng việc khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ tin dụng, ngân hàng sẽ thực hiện số giao dịch séc và tiền mặt ít hơn.