Chương 1 đã giới thiệu về tổng quan, lý do chọn đề tài; mục đích nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn và cấu trúc luận văn. Chương 2 sẽ giới thiệu về các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu; các lý thuyết nền phục vụ nghiên cứu và mô hình nghiên cứu cùng các giả thiết được đặt ra để giải thích và trả lời các câu hỏi đã nêu trong lý do chọn đề tài.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Đầu tư và hoạt động đầu tư Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. (Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam, 2005) Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản.
Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng. Mặc dù đầu tư làm tăng năng lực sản xuất (phía cung của nền kinh tế), song việc xuất tư bản để đầu tư lại được tính vào tổng cầu. Đầu tư tư nhân I và đầu tư công cộng G là các nhân tố quan trọng hình thành tổng cầu Y trong phương trình: Y = C + I + G + X - M (với C là tiêu dùng cá nhân, X là xuất khẩu và M là nhập khẩu).
Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư tư nhân được coi là hàm số của thu nhập và lãi suất thực tế .2 Đầu tư tài chính Đầu tư tài chính là một hình thức đầu tư chủ yếu thông qua hình thức mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính thông thường chỉ nhắm vào mục đích mua và bán chứ ít làm tăng giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào (vi. Đầu tư tài chính là tiền mà được đặt cho một số công ty đầu tư tài chính, quỹ để có được lợi nhuận trong tương lai. Đầu tư tiền tài chính có thể được sử dụng bởi cả hai cá nhân và các công ty tư nhân, không có vấn đề cho dù họ là doanh nhân doanh nghiệp nhỏ hoặc các tập đoàn lớn.
6 Hoạt động đầu tư tài chính là các hoạt động đầu tư vốn vào lĩnh vực kinh doanh khác, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp/cá nhân nhằm mục đích mở rộng cơ hội thu lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Nói cách khác, đây là hình thức doanh nghiệp tận dụng mọi tài sản, nguồn vốn nhàn rỗi hoặc sử dụng kém hiệu quả và các cơ hội kinh doanh trên thị trường để tham gia vào các quá trình kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa trong kinh doanh.3 Đầu tư tài chính cá nhân Đầu tư tài chính cá nhân là việc cá nhân tận dụng mọi tài sản, nguồn vốn nhàn rỗi thực hiện đầu tư tài chính chủ yếu vào mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính khác. Theo giới hạn của đề tài nghiên cứu, các hình thức đầu tư cá nhân có nhiều dạng, trong đó có thể liệt kê một số loại hình đầu tư phổ biến như: Gửi tiết kiệm nội tệ hưởng lãi suất ngân hàng Mua bán bất động sản hưởng chênh lệch giá hoặc cho thuê thu lợi nhuận Mua bán vàng hưởng chênh lệch giá hoặc thu lãi gửi ngân hàng Mua bán ngoại tệ hưởng chênh lệch giá hoặc lãi gửi ngân hàng Mua bán chứng khoán hưởng chênh lệch giá và/hoặc chứng khoán hay lợi tức Mua bảo hiểm nhân thọ hưởng lãi tiết kiệm và các quyền lợi bảo hiểm Đầu tư cá nhân có thể được thực hiện với các hình thức đầu tư gián tiếp, là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.2 Giới thiệu về thị trường đầu tư tài chính cá nhân 2.1 Đặc điểm về thị trường đầu tư tài chính cá nhân Bức tranh toàn cảnh của thị trường tài chính Việt Nam năm 2011 có dấu ấn khá sâu đậm với nhiều màu sắc đan xen. Sau một năm thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ chặt chẽ để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết 11/NQ- 7 CP/2011 của Chính phủ, đến nay nền kinh tế đã đạt được một số kết quả tích cực, trong đó có thể thấy rõ một số kết quả bước đầu trên từng bộ phận của thị trường tài chính.
Thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng được cải thiện, tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm chỉ ở mức 15%, thấp hơn so với kế hoạch và cũng là năm mức huy động vốn cao hơn tốc độ cho vay vốn, đưa lãi suất huy động từ 1 tháng trở lên đều ở mức 14%/năm. Khi lãi suất huy động vốn giảm, lãi suất cho vay đối với nền kinh tế cũng có xu hướng giảm dần, từ đó tạo hiệu ứng tích cực từ phía nền kinh tế, từ các khách hàng vay vốn, đồng thời cũng giúp các tổ chức tín dụng hạn chế nợ xấu do tác động hai mặt của cơ chế lãi suất cao. Tỷ giá hối đoái lần đầu tiên sau nhiều năm không có sự chêch lệch lớn với tỷ giá trên thị trường tự do. NHNN đã điều chỉnh mạnh tỷ giá liên ngân hàng lên 10,15% (từ mức 18.803), đồng thời hạ biên độ giao dịch xuống còn +/-1%, điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi USD của doanh nghiệp và dân cư xuống còn 0,5% và 2%.
Biện pháp này đã cho phép các tổ chức tín dụng mua được ngoại tệ, thị trường có tính thanh khoản tốt hơn, đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ hợp lý cho khách hàng, đồng thời có dư bán về NHNN, góp phần tăng được dữ trữ ngoại hối quốc gia. Một bộ phận của thị trường tiền tệ, đó là việc huy động, cho vay và mua bán vàng miếng có sự biến động mạnh. Từ việc dừng cho vay vàng đối với các tổ chức tín dụng, hạn chế huy động vàng miếng trực tiếp, đến việc bán ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu vàng và cấp quota cho từng doanh nghiệp… những biện pháp này chưa tạo ra sự ổn định của thị trường vàng. Loại trừ yếu tố tăng giá của thị trường thế giới, giá vàng trong nước đã diễn biến quá phức tạp, chịu nhiều tác động bởi yếu tố đầu cơ, làm giá để trục lợi.
Vì thế, năm 2011 là năm bất ổn của thị trường vàng. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 cũng phải đối mặt với nhiều thông tin kinh tế vĩ mô tiêu cực: sự mất giá mạnh của VND; việc điều chỉnh giá điện tăng 15%; giá xăng dầu tăng; chỉ số giá tiêu dùng tăng cao trong những tháng đầu năm và chính sách thắt chặt tín dụng. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi trong phần lớn thời gian của năm 2011, thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục trầm lắng và đối mặt với nhiều khó khăn. Trên thị trường bất động sản, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chặt chẽ cũng tác động lớn đến một số chủ dự án và nhà đầu tư bất động sản nhỏ lẻ, làm cho họ gần như không bán được hàng.
Ngay cả thị trường căn hộ cao cấp vốn được coi là ít chịu tác động 8 từ lạm phát, nhưng vẫn rất ít giao dịch được thực hiện. Để bán được hàng, các chủ dự án đã dùng nhiều giải pháp như chiết khấu giá, giảm giá, kéo dài thời gian nộp tiền, hay chia ra nhiều lần thanh toán… nhưng thị trường bất động sản vẫn trầm lắng. Do hệ thống thị trường tài chính nước ta lệ thuộc quá lớn vào chính sách tài chính, tiền tệ, khi chính sách tài chính tiền tệ điều hành theo hướng thắt chặt để đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, thì đã tác động tiêu cực đến từng bộ phận của thị trường ở các mức độ khác nhau. Sự biến động của thị trường chứng khoán cũng như thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối ở nước ta cho thấy hệ thống thị trường tài chính bị phân khúc, chưa đạt sự minh bạch trong quản trị, điều hành.
Bởi vậy, những rủi ro tiềm ẩn từ nội tại các chủ thể tham gia thị trường chưa được xử lý triệt để, các thông tin thị trường chưa được cập nhật một cách chuẩn xác, trong khi yếu tố tâm lý của nhà đầu tư luôn bị chi phối nặng nề bởi các thông tin này. Trên thị trường vẫn còn khoảng trống pháp lý cho những nhà đầu cơ lũng đoạn thị trường.2 Thị trường ngoại tệ 2.1 Các đặc tính Tính thanh khoản: thị trường hoạt động tiền tệ rất lớn và tự do cung cấp hoàn toàn các vị trí mở hoặc đóng tại bảng báo giá thị trường hiện tại. Thanh khoản cao là một nam châm mạnh mẽ cho nhà đầu tư vì đảm bảo sự tự do mở và đóng vị trí khối lượng bất kỳ. Tính hiệu quả: chế độ làm việc 24h, người tham gia thị trường ngoại hối không cần phải chờ đợi để phản ứng với bất kỳ sự kiện nào, như xảy ra ở nhiều thị trường.
Khả năng tiếp cận: khả năng giao dịch 24 giờ trong ngày, bất kể vị trí địa lý: để vào thị trường chỉ yêu cầu một máy tính kết nối với Internet. Và bây giờ, với sự phát triển công nghệ nhanh chóng là có thể đạt được ngay giao dịch ngay cả một máy tính cầm tay hoặc điện thoại di động. Sự điều chỉnh linh hoạt của hệ thống tổ chức giao dịch: ở thị trường tiền tệ, vị trí lệnh có thể được đặt ra ở một thời gian định trước theo yêu cầu của nhà đầu tư, cho phép lên lịch thời gian hoạt động giao dịch tương lai. Xu hướng thị trường: sự biến động tiền tệ có một khuynh hướng nhất định, có thể được quan sát trong một khoảng thời gian.
Mỗi loại tiền tệ nào cũng đều có sự thay đổi đặc tính theo thời gian, cho phép việc dự đoán trong Forex.