chương 1 tác giả tóm tắt những đóng góp của đề tài và trình bày khái quát kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm Chương 2 tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về tiêu chuẩn đánh giá lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó đưa ra cơ sở lựa chọn các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3 bao gồm các giai đoạn cũng như mô hình tác giả sử dụng để nghiên cứu; đồng thời làm rõ các phương pháp nghiên nghiên cứu, xác định mẫu cũng như phương pháp xử lý dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4 sẽ trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố đến lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE theo kết quả hồi quy qua các mô hình Pooled OLS, FEM, REM và cả GLS (trong trường hợp các mô hình ban đầu có khuyết tật). 5 Chương 5: Kết luận và gợi ý, khuyến nghị.
Chương 5 sẽ rút ra kết luận về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Từ đó đưa ra các gợi ý, khuyến nghị có liên quan đến ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Sau đó, tác giả cũng sẽ đưa ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 6 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Với mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu là làm rõ sự ảnh huởng của các yếu tố lên lợi nhuận của doanh nghiệp, chương 1 đã khái quát được tính cấp thiết cũng như lý do của đề tài, từ đó chỉ rõ mục tiêu cụ thể, xác định huớng nghiên cứu thông qua các câu hỏi nghiên cứu tương ứng.
Cuối chương 1 tác giả đưa ra kết cấu cho đề tài nghiên cứu này. Với mẫu nghiên cứu là 249 doanh nghiệp phi tài chính và thời gian nghiên cứu là 4 năm (2014 – 2017), chương 1 đã giới thiệu được sự lựa chọn chủ yếu của đề tài là phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng phân tích h̀i quy dữ liệu bảng theo FEM và REM, được kết hợp với thống kê mô tả và phân tích tương quan. Và mô hình h̀i quy sẽ theo GLS nếu có mô hình có khuyết tật. 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp, qua đó định hướng thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN Lợi nhuận là yếu tố để quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất đạt hiệu quả nhất, sử dụng nguồn vốn hiệu quả nhất và sử dụng tối đa các nguồn lực. Lợi nhuận còn là mục tiêu để các nhà sản xuất kinh doanh mở rộng sản xuất và là động lực của bất kỳ ai kinh doanh trên thị trường. Lợi nhuận là khoảng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, qua đó thể hiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu tiếp cận theo các mảng hoạt động trong doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau được phân vào hai nhóm chính: (i) lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bao gồm lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính và lợi nhuận từ hoạt động tài chính, và (ii) lợi nhuận khác.
Như vậy, lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính quan trọng mà tất cả các chủ thể có liên quan đến doanh nghiệp đều rất quan tâm; và dưới góc độ tài chính, lợi nhuận cần phải xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra nó như tổng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu,. (Ngô Kim Phượng và các cộng sự, 2016; Richard A. Brealey và các cộng sự, 2008). Theo lý thuyết về Lợi nhuận, lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất – kinh doanh.
Việc phân tích lợi nhuận sẽ cho ta rất nhiều thông tin về tình hình quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, lợi nhuận cao sẽ đáp ứng được nhu cầu tái xuất – kinh doanh, giúp tăng quy mô và làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Lý thuyết về lợi nhuận cũng phát biểu rằng lợi nhuận chính là động lực thúc đẩy các hãng sản xuất – kinh doanh. 8 Điều này giúp tăng thu nhập của người lao động và của chính doanh nghiệp.
Ngoài ra, lợi nhuận còn là tiền thưởng cho việc chịu mạo hiểm, là phần thu nhập về bảo hiểm khi vỡ nợ, phá sản và sản xuất không ổn định. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN 2. Cấu trúc vốn Lý thuyết M&M: Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại của Modigliani và Miller được công bố năm 1958 đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mượn. Lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề: Mệnh đề thứ nhất về giá trị doanh nghiệp, mệnh đề thứ hai về chi phí sử dụng vốn.
Các mệnh đề này lần lượt được nghiên cứu trong hai trường hợp có thuế và không có thuế thu nhập doanh nghiệp. - Trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp: Để đơn giản hóa, lý thuyết M&M đưa ra các giả định: o Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân; o Không có chi phí giao dịch; o Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn về tài chính; o Cá nhân và doanh nghiệp đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau; o Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo. Với những giả định trên, nội dung của lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề dưới đây: Mệnh đề thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay (VL) bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay (VU), nghĩa là VL=VU, nghĩa là cấu trúc vốn không ảnh hưởng gì đến giá trị doanh nghiệp. Mệnh đề thứ hai: Mệnh đề này cho rằng chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tăng lên nếu doanh nghiệp tăng nợ.
Với các điều kiện giả định, chi phí sử dụng vốn vay thấp hơn chi phí sử dụng vốn vốn cổ phần nên nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng nợ vay sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, đồng thời chi phí sử dụng vốn cổ 9 phần cũng tăng theo tỷ trọng nợ vay lại làm chi phí sử dụng vốn bình quân tăng lên. Do đó, chi phí sử dụng vốn bình quân không thay đổi. - Trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp: Trường hợp này đưa ra các giả định: o Có thuế thu nhập doanh nghiệp; o Không có chi phí giao dịch; o Các cá nhân và doanh nghiệp đều có thể vay nợ với lãi suất như nhau. Mệnh đề thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay cộng với giá trị hiện tại của lá chắn thuế từ lãi vay.
Theo mệnh đề này, cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và tăng đến mức tối đa khi doanh nghiệp dùng 100% nợ. Mệnh đề thứ hai: Tương tự trường hợp không có thuế, trường hợp có thuế thì chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng lên theo mức độ sử dụng nợ vay. Vì vậy, doanh nghiệp tăng tỷ trọng nợ vay làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, đồng thời chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng theo tỷ trọng nợ vay lại làm chi phí sử dụng vốn bình quân với tốc độ tăng chậm hơn.
Do đó, chi phí sử dụng vốn bình quân giảm khi doanh nghiệp tăng hệ số nợ. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off theory): Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, khi doanh nghiệp vay nợ ngày càng nhiều thì rủi ro phá sản sẽ ngày càng cao và làm sụt giảm giá trị doanh nghiệp; đến một lúc nào đó giá trị của tấm chắn thuế bằng với giá trị của chi phí kiệt quệ tài chính. Thuyết đánh đổi có ưu điểm như giải thích được các khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành.
Chẳng hạn, các doanh nghiệp tăng trưởng công nghệ cao, có tài 10 sản hầu hết là tài sản vô hình thường sử dụng ít nợ. Bên cạnh đó làm rõ hơn ảnh hưởng của thuế, chi phí khánh kiệt tài chính đến cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi cho rằng, các doanh nghiệp có nợ vay quá nhiều, không thể trả bằng tiền mặt trong vòng một vài năm, nên phát hành cổ phần, hạn chế cổ tức, hay bán bớt tài sản để huy động tiền mặt nhằm tái cấu trúc vốn. Tuy nhiên, cũng có nhiều điều mà lý thuyết đánh đổi chưa thể giải thích như tại sao một số doanh nghiệp vẫn thành công, kết quả kinh doanh tốt trong khi vay rất ít nợ, hay trong thực tế khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp đang cao và doanh nghiệp đang có nhu cầu về tài trợ bên ngoài thì doanh nghiệp có nhiều khả năng phát hành cổ phiếu hơn là vay nợ.
Quy mô doanh nghiệp: Quy mô doanh nghiệp có thể được hiểu là mức doanh thu, mức tài sản, nguồn vốn, số công nhân. Theo lý thuyết về quy mô kinh tế (economies of scale), những doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ ít chịu ảnh hưởng bởi các chi phí, đặc biệt là chi phí cố định. Đây cũng là yếu tố quyết định giúp các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ dễ dàng cải thiện lợi nhuận hơn các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ. Nói cách khác, doanh nghiệp có quy mô doanh nghiệp lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn (ví dụ như dễ dàng huy động hơn, mức vay cao hơn, lãi suất vay thấp hơn).
Những doanh nghiệp này với sức mạnh về tài chính, tài sản và khả năng quản lý sẽ dễ dàng khai thác lợi thế theo quy mô doanh nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phí đầu vào và gia tăng hiệu quả đầu ra.