chương 1, tác giả đã trình bày lý do của việc thực hiện đề tài và xác định được mục tiêu của đề tài là đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công việc của cán bộ nhân viên làm việc tại UBND thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Chương này cũng cho biết phạm vi của nghiên cứu giới hạn tại UBND thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bao gồm Văn phòng UBND và các Phòng Chuyên môn thuộc UBND. Đồng thời, cũng cho biết nghiên cứu này được thực hiện thông qua 02 bước chính: Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng. Cuối cùng là giới thiệu tổng quát kết cấu nội dung của bài nghiên cứu này gồm 05 chương.
6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan một số khái niệm 2. Khái niệm hiệu quả công việc Hiệu quả công việc theo tác vụ bao gồm các trách nhiệm trong bảng mô tả công việc, nó đòi hỏi khả năng nhận thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực hiện công việc (Conway, 1999). Để thực hiện tốt nhiệm vụ, nhân viên phải có đủ kiến thức cả về công việc, bối cảnh và khả năng thực hiện nhiệm vụ (Murphy và Shiarella, 1997).
Hiệu quả công việc theo nhiệm vụ gồm ba thành phần chính: độ thành thạo nhiệm vụ, sự hiệu quả các nguồn tài nguyên và thông tin để hoàn thành mục tiêu công việc, giải quyết vấn đề nhanh chóng và phù hợp (Borman và Motowidlo, 1997). Campbell và ctg (1990) định nghĩa hiệu quả công việc là các hành vi có thể quan sát được của người nhân viên được thực hiện trong quá trình làm việc có lirn quan đến mục tiêu của tổ chức; và hiệu quả công việc bao gồm các hành vi của người nhân viên tham gia vào công việc thực tế mà có thể được quan sát tại thời điểm đó (Campbell và ctg, 1993). Theo đó, hiệu quả công việc được xác định có các đặc điểm sau: (i) là hành vi, là những điều mà người nhân viên làm và có thể được quan sát; (ii) chỉ bao gồm các hành vi có liên quan đến mục tiêu của tổ chức; (iii) mang tính đa chiều vì công việc không đơn thuần là một việc/một hoạt động mà bao gồm nhiều hoạt động phức tạp có chứa đựng nhiều thành phần của hiệu quả. Theo Mathis và Jackson (2009), hiệu công làm việc liên quan đến số lượng, chất lượng, tính kịp thời của công việc đầu ra, sự hiện diện, có mặt khi cần, tính hiệu suất và hiệu quả của công việc được hoàn tất.
Nicholas (2003) và Fort và Voltero (2004) cho rằng các yếu tố tác động đến hiệu quả làm việc của nhân viên như: mục tiêu rõ ràng, sự kỳ vọng trong công việc, sự phù hợp công việc, sự phản hồi nhanh chóng, kỹ năng thực hiện công việc, hiểu biết về cấu trúc của tổ chức, hệ thống phản hồi chức năng và sự động viên. 7 Dự vào các kết quả nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy hiệu quả làm việc là một khái niệm thể hiện kết quả đóng góp của cá nhân đến tổ chức, kết quả này thể hiện qua giá trị mà họ tạo ra cho tổ chức, nhân lực trong mỗi tổ chức luôn được xem là nguồn lực đầu vào quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó. Một tổ chức sở hữu lực lượng lao động có chất lượng cao với đầy đủ các kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc tốt sẽ được kiểm chứng thông qua hiệu quả công việc của nhân viên. Phân loại hiệu quả công việc của nhân viên Nội dung bảng mô tả công việc chính thức thường liệt kê đầy đủ, chính xác các công việc và yêu cầu người nhân viên phải thực hiện đúng để góp phần đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên trong thực tế, người nhân viên không chỉ làm những việc đã liệt kê mà còn làm những công việc không được liệt kê trong mô tả công việc chính thức nhưng vẫn đóng góp cho việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Dựa vào quan điểm cho rằng người nhân viên có thể có đóng góp hoặc làm giảm giá trị việc đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng những cách vượt xa mô tả công việc chính thức mà tổ chức giao cho họ, Borman và Motowidlo (1993) phân chia Hiệu quả công việc thành hai loại: (i) Hiệu quả theo nhiệm vụ (task performance) và (ii) Hiệu quả theo bối cảnh thực hiện (contextual performance). Hiệu quả theo nhiệm vụ là hành vi được liên kết trực tiếp với sự hoàn thành công việc (Borman và Motowidlo, 1993). Hành vi trong nội dung về hiệu quả theo nhiệm vụ thường được chấp nhận là đòi hỏi chính thức về công việc của người nhân viên (Kappagoda và ctg, 2014), thường được thể hiện tại mô tả công việc chính thức.
Motowildo và ctg (1997) phân chia hiệu quả theo nhiệm vụ thành 2 loại: (i) các hoạt động biến đổi nguyên liệu thô thành các hàng hóa hay dịch vụ là sản phẩm của tổ chức, chẳng hạn như hoạt động bán hàng tại cửa hàng tiện lợi, vận hành máy móc tại nhà máy, dạy học,…; (ii) các hoạt động phục vụ và duy trì nòng cốt kỹ thuật (technical core) của tổ chức bằng cách bổ sung nguồn cung cấp các nguyên liệu thô, phân phối thành phẩm hoặc cung cấp các chức năng quan trọng như lập kế hoạch, phối hợp, giám sát thực hiện để nó hoạt động hiệu quả. Borman và ctg (1994) đã xác định ba khía cạnh của hiệu quả theo nhiệm vụ là: (i) Độ thành 8 thạo nhiệm vụ: chứng minh chuyên môn tốt trong công việc, thể hiện sự chính xác khi thực hiện công việc, chú ý nhiều đến các chi tiết, giảm thiểu sai sót và cung cấp dịch vụ được đánh giá có chất lượng cao; (ii) Sự hiệu quả: sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên khi làm việc, quản lý thời gian tốt, hoàn thành các mục tiêu trong mọi hoàn cảnh, cung cấp nhiều dịch vụ đến khách hàng hơn; (iii) Giải quyết vấn đề: đưa ra quyết định đúng khi đối mặt với vấn đề, phân tích đúng vấn đề, sử dụng các thông tin sẵn có, xác định các giải pháp thích hợp. Hiệu quả theo bối cảnh thực hiện giúp định hình bối cảnh mà các nhiệm vụ được thực hiện (Michel, 2001). Hiệu quả theo bối cảnh thực hiện là hiệu quả thực hiện công việc của cá nhân trong việc duy trì và phát triển mạng xã hội của tổ chức và môi trường tâm lý ủng hộ các nhiệm vụ kỹ thuật (Borman và Motowidlo, 1993).
Motowidlo và Schmit (1999) xác định các khía cạnh của hiệu quả theo bối cảnh thực hiện là: (i) Tình nguyện thực hiện xong các nhiệm vụ; (ii) Kiên trì và nỗ lực thêm; (iii) Giúp đỡ và cộng tác với người khác; (iv) Thực hiện theo các quy trình và/hoặc các thủ tục của tổ chức; (v) Chấp thuận, hỗ trợ và bảo vệ các mục tiêu tổ chức. Nó bao gồm các hành vi hay các hành động giữa các cá nhân làm lợi cho tổ chức (Motowildo và ctg, 1997). Các hoạt động này không phải các công việc đƣợc liệt kê tại mô tả công việc chính thức của nhân viên nhưng khi thực hiện nó, nhân viên có đóng góp quan trọng vào hiệu quả của tổ chức. Tubre (2001) kết luận rằng hiệu quả theo nhiệm vụ và hiệu quả theo bối cảnh thực hiện là khác nhau và nhận được sự ủng hộ từ các nghiên cứu thực nghiệm.
Khi xây dựng lý thuyết về hiệu quả công việc, Motowildo và ctg (1997) chú ý xem xét các biến khác biệt cá nhân (chẳng hạn như khả năng, tính cách cá nhân, kĩ năng và kiến thức công việc) như là các tiền tố của hiệu quả theo nhiệm vụ và hiệu quả theo bối cảnh thực hiện. Việc duy trì những sự khác biệt cá nhân về tính cách và khả năng nhận thức cùng với các kinh nghiệm học tập mang lại sự biến đổi các thích ứng đặc trưng rằng tính cách cá nhân và khả năng nhận thức có tác động gián tiếp đến hiệu quả công việc. Theo đó, khả năng nhận thức được cho là yếu tố tác động mạnh nhất, dự báo tốt hơn về hiệu quả theo công việc và các biến về tính cách như sự tận tâm, tính dễ chịu, tính hướng ngoại là các yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất, dự báo tốt hơn về hiệu quả theo bối 9 cảnh thực hiện. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng dự đoán rằng khả năng nhận thức có những sự tác động nhất định đến hiệu quả theo bối cảnh thực hiện thông qua các ảnh hưởng trực tiếp của những sự thích nghi đặc trưng với hiệu quả theo bối cảnh thực hiện; và ngược lại, một vài biến tính cách cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả theo nhiệm vụ.
Viswesvaran và Ones (2000), Rotundo và Sackett (2002) trong khi xem xét khung khái niệm hiệu quả công việc của cá nhân lại kết luận rằng hiệu quả công việc có ba khía cạnh phân biệt với nhau là hiệu quả theo nhiệm vụ, hành vi công dân tổ chức (organizational citizenship behavior - OCB) và hành vi làm việc phản tác dụng (counter productive work behavior). Organ (1988) định nghĩa hành vi công dân tổ chức là hành vi cá nhân mang tính tùy ý, không được công nhận rõ ràng hoặc trực tiếp bởi hệ thống khen thưởng chính thức và trong tổng thể, nó khuyến khích sự hoạt động hiệu quả của tổ chức. Hành vi công dân tổ chức mang tính tùy ý và không liên quan đến các công việc của nhân viên được tổ chức giao và quy định tại mô tả công việc chính thức. Hành vi công dân tổ chức là đồng nghĩa với khái niệm hiệu quả theo bối cảnh thực hiện được Borman và Motowidlo đưa ra và nó được xem là một loại hiệu quả công việc (Organ, 1997).
Hành vi làm việc phản tác dụng được định nghĩa như là các hành vi làm gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự thành công của tổ chức (Rotundo và Sackett, 2002) và bao gồm các hành vi như sự vắng mặt, hành vi làm những việc cá nhân không liên quan nhiệm vụ, trộm cắp, tham ô tài sản. Hiệu quả về khả năng thích nghi (adaptive performance) cũng được Pulakos và ctg (2000), Sinclair và Tucker (2006) xem như là một khía cạnh/loại hiệu quả công việc nhưng trong nhiều công việc, hiệu quả về khả năng thích ứng chỉ là một phần của hiệu quả theo bối cảnh thực hiện chứ không phải là một loại hiệu quả công việc riêng biệt (Koopmans và ctg, 2011). Ngoài ra, trong nghiên cứu về hiệu quả công việc, Fluegge (2008) cũng đề xuất hiệu quả sáng tạo (creative performance) là một loại hiệu quả công việc.