Chương I: Trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; giới thiệu chung về phương pháp nghiên cứu; quy trình nghiên cứu; những đóng góp của đề tài và kết cầu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thẻ tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tới dư nợ thẻ tín dụng; trong đó nêu lên những cơ sở lý thuyết chung về thẻ tín dụng, dư nợ thẻ tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tới dư nợ thẻ tín dụng. Tiếp đến là sơ lược các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 3: Mô hình nghiên cứu; trong đó sẽ trình bày cụ thể về mô hình nghiên cứu, phân tích biến phụ thuộc và các biến độc lập sử dụng trong mô hình, xác định kích thước mẫu, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu áp dụng trong mô hình cụ thê như thế nào, từ đó chạy mô hình hồi quy đữ liệu theo mô hình và phân tích kết quả.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu; tiễn hành chạy mô hình hồi quy dữ liệu theo mô hình và phân tích kết quả. Tiếp đến, tiến hành kiêm định giả thiết mô hình không có hiện tượng tự tương quan, kiểm định đa cộng tuyến, và kiểm định sự phù hợp của mô hình. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị; Trong phần này tôi đề xuất một số giải pháp nhằm tăng dư nợ thẻ tín dụng của Vietcombank Đà Lạt từ thực tế tại chỉ nhánh và kết quả mô hình hồi quy. CHƯƠNG 2 CO SO LY THUYET VE THE TIN DUNG VA CAC NHAN TO ANH HƯỚNG TỚI DƯ NỢ THẺ TÍN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 2.1 Thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng.
Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ tín dụng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Thẻ tín dụng (Credit card) là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, cung cấp cho người sử dụng khả năng chỉ tiêu trước trả tiền sau. Tại thời điểm khách hàng thanh toán hàng hoá dịch vụ, ngân hàng sẽ tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dich vụ và tiến hành thu hồi khoản tiền nay từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ.
Khoảng thời gian kể từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của từng tổ chức thẻ khác nhau. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngay dén han, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ. Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán chưa hết dư nợ cuối kỳ cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả. Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục như ban đầu.
Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng.2 Dư nợ thẻ tín dụng Các cá nhân hoặc các đơn vị kinh tế vay vốn của ngân hàng trên cơ sở hạn mức tín dụng được cấp, ngân hàng sẽ căn cứ trên thu nhập hoặc kế hoạch kinh doanh và quy mô hoạt động của đơn vị mà ấn định con số cho vay dựa trên kết quả của công tác thẩm định. Trong kỹ thuật kế toán của ngành ngân hàng, khi cho vay một khoản vay được ghi nhận vào bên nợ của tài khoản cho vay (ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn) và khi các cá nhân hoặc đơn vị trả nợ thì khoản trả trước đó được ghi nhận vào bên có của tài khoản vay đó. Đến lúc đó, khoản nợ của khách hàng đã giảm xuống (bên nợ trừ đi bên có của tài khoản cho vay) được thê hiện trên phần dư nợ của tài khoản. Vì vậy, du nợ tín dụng là khoản nợ của khách hàng vay đối với ngân hàng đến một thời điểm nhất định thể hiện trên phần bên nợ của tài khoản cho vay của ngân hàng.
Đầu kỳ vay thì dư nợ tăng cao, càng trả nợ thì dư nợ giảm dần đến khi trả hết nợ thì dư nợ của khách hàng bằng không. Tương tự, dư nợ thẻ tín dụng là khoản nợ của khách hàng sau khi thanh toán bằng thẻ tín dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ, đến một thời điểm nhất định thê hiện bên nợ của tài khoản thẻ tín dụng của khách hàng.3 Thuyết hành động hợp lý Thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian từ đầu những năm 70 bởi Ajzen và Fishbein (1980). Mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng.
Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thê dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. 10 Yếu tố chuân chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.); những người này thích hay không thích họ mua.
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đây người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với người tiêu dùng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ. Niềm tin của người tiêu dùng vào những người có liên quan càng lớn thì xu hướng chọn mua của họ cũng bị ảnh hưởng càng lớn.
Ý định mua của người tiêu dùng sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau. Niềm tin đối với thuộc tỉnh sản phầm Thái độ Đo lường niêm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niêm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghi rằng tôi nên hay Às không nên mua sản Chuẩn chủ phẩm quan Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguôn: Fishbein và Ajzen, 1975 11 Trong mô hình thuyết hành động hợp lý thì niềm tin của mỗi cá nhân người tiêu dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi, và thái độ hướng tới hành vi sẽ ảnh hưởng đến xu hướng mua chứ không trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi mua. Do đó thái độ sẽ giải thích được lý do dẫn đến xu hướng mua sắm của người tiêu dùng, còn xu hướng là yếu tố tốt nhất để giải thích xu hướng hành vi của người tiêu dùng.2 Các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng tới dư nợ thẻ tín dụng 2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây Thẻ tín dụng là một sản phẩm đã có khá lâu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và một số quốc gia ở Châu Âu, Singapore.Chính vì vậy tiềm năng phát triển của loại thẻ này thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới nhằm tìm hiểu các vấn đề liên quan đến thẻ tín dụng như việc sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng; vấn đề nợ thẻ tín dụng, các loại thẻ tín dụng.Điều này đã làm phong phú thêm cơ sở lý thuyết về thẻ tín dụng. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu này đều tiếp cận các nhân tố từ phía khách hàng đến sự phát triển của thẻ tín dụng.
Đặc biệt tác động của các biến nhân khẩu học như giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, thu nhập, tôn giáo và sự an toàn trong chi tiêu, thái độ với nợ. Theo nghiên cứu của Kim và Vaney (1998) đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự cân bằng thẻ tín dụng gồm bốn tập hợp yếu tố dựa trên chu kỳ mô hình thẻ tín dụng, nghiên cứu về hành vi tiêu dùng và hành vi tiết kiệm của hộ gia đình trước đó như sau: nhu cầu tiêu thụ, nguồn tài nguyên, tỷ lệ lãi suất và các yếu tô ưu tiên. Nếu chia nhỏ các nhân tổ ra, chỉ rõ là những nhân tố sau: Độ tuổi, tình trạng hôn nhân, thu nhập, tính thanh khoản của tải sản, đầu tư tài sản, tài sản thực, số lượng thẻ, hạn mức tín dụng, trình độ, lãi suất và thói quen tiêu đùng. Hai tác giả sử dụng phương pháp hồi quy hai bước Heckman để chứng minh mối quan hệ giữa các biến giải thích và số dư nợ thẻ tín dụng.
Tuy nhiên, các biến khác như sự giảm giá của tiền mặt, phí thường niên và thời gian gia hạn; đây là các thông tin không có sẵn trong 12 dữ liệu, vì thế nghiên cứu này không thê dự đoán được sự ảnh hưởng của các biến về chỉ phí và lợi ích của thẻ tín dụng đến số dư nợ tín dụng. Theo nghiên cứu của Safakli (2007) nhằm xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến việc sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng được thực hiện tại thành phố Nicosia — miền Bắc nước cộng Hòa Séc. Những đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đáng kê đến việc sử dụng thẻ tín dụng là giới tính, trình độ học vắn, thu nhập, độ tuôi, tôn giáo. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu lại cho thấy chiến lược tiếp thị dựa theo đặc điểm nhân khâu học không phải là một chiến lược tiếp thị khả thi.