chương 1 bao gồm: (1) Lý do lựa chọn đề tài, (2) Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, (3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (4) Phương pháp nghiên cứu, (5) Ý nghĩa của nghiên cứu và (6) Bố cục của luận văn. Lý do lựa chọn đề tài Hiện nay môi trƣờng xanh trên toàn cầu đang bị ô nhiễm trầm trọng, Tình trạng môi trƣờng bị ô nhiễm có thể gây ra nhiều hậu quả không chỉ trực tiếp làm tổn hại đến sức khỏe, tính mạng con ngƣời mà còn ảnh hƣởng đến giống nòi, con cháu thế hệ sau. Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm đáng báo động này là do các khu dân cƣ đông đúc, chợ, siêu thị, trung tâm thƣơng mại, trƣờng học ở các thành phố lớn, nhà máy, công trình… mỗi ngày thải ra ngoài môi trƣờng rất nhiều chất thải rắn (CTR), chất thải nguy hại đến sự sống của con ngƣời và các sinh vật khác. Mỗi năm có khoảng 4,2 triệu ngƣời trên toàn thế giới chết vì ô nhiễm môi trƣờng (theo W.
Chỉ một dẫn chứng này đủ để thấy ô nhiễm môi trƣờng sống đã và đang là vấn đề nóng trên toàn cầu, cần đƣợc con ngƣời xem xét nghiêm túc. CTR trong sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nên sự ô nhiễm gây ra từ CTR sinh hoạt đƣợc các nhà nghiên cứu về môi trƣờng quan tâm nghiên cứu xử lý. Ở các nƣớc phát triển các quá trình thu gom và quản lý CTR đƣợc hoàn thiện là do có cơ sở vật chất, kỹ thuật đầy đủ, ngoài ra ý thức bảo vệ môi trƣờng của ngƣời dân rất cao. Chính vì vậy, việc phân loại rác thải tại nguồn rất tốt.
Mặt khác, các công nghệ tái chế CTR đã đƣợc phát triển và ứng dụng phổ biến ở một số nƣớc nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngành công nghiệp môi trƣờng đã đƣợc thành lập nhằm giải quyết đƣợc ô nhiễm môi trƣờng, tái chế chất thải và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Kinh nghiệm nhiều quốc gia cho thấy họ đã tận dụng hiệu quả rác thải, biến rác thải thành tài nguyên, mang lại giá trị kinh tế lớn. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Châu Âu đang đi đầu trong các giải pháp xử lý rác thải và họ coi 2 rác thải chính là nguồn tài nguyên quý giá, rác chính là cơ hội kinh doanh vừa mang lại lợi nhuận kinh tế vừa bảo vệ môi trƣờng. Thụy Điển là quốc gia trong nhiều năm liền đi đầu trong hoạt động tái chế rác thải, tỷ lệ rác thải từ các hộ gia đình đƣợc tái chế lên tới 99%.
Hiện quốc gia này đang phải nhập khẩu rác từ các nƣớc khác để các nhà máy tái chế tiếp tục hoạt động, tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế.Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới loay hoay với bài toán tái chế rác thải nhựa thì Australia đã dùng công nghệ sinh học để tái chế nhựa, chuyển đổi lại thành nhựa chất lƣợng cao. Na Uy cũng là một trong những quốc gia đi đầu trên thế giới trong phong trào tái chế chất thải nhựa. Bằng chứng là 97% chai nhựa từ nƣớc này đã đƣợc tái chế, 92% trong số đó quay trở lại thành nhựa chất lƣợng cao và có thể tiếp tục đựng nƣớc uống. Vòng đời của một số chai nhựa ở Na Uy có thể lên tới 50 lần tái chế.
Điều này biến quốc gia Bắc Âu trở thành hình mẫu của cả thế giới trong lĩnh vực xử lý rác thải rắn cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng. Tại Việt Nam, theo kết quả kiểm tra, đánh giá của Tổng cục Môi trƣờng đến tháng 12/2019, cả nƣớc có 381 lò đốt CTR sinh hoạt, 37 dây chuyền sản xuất phân compost, 904 bãi chôn lấp, riêng tổng diện tích các bãi chôn lấp rác thải tại các khu đô thị đã lên tới 4.900 ha, trong đó có không ít bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Hiện có tới 71% tổng lƣợng chất thải (tƣơng đƣơng 43 nghìn tấn/ngày) trên toàn quốc xử lý bằng phƣơng pháp chôn lấp (không bao gồm lƣợng bã thải và tro xỉ từ các cơ sở chế biến phân compost và các lò đốt); 16% tổng lƣợng chất thải (tƣơng đƣơng 9,5 nghìn tấn/ngày) đƣợc xử lý tại các nhà máy chế biến sản xuất phân compost; 13% tổng lƣợng chất thải (tƣơng đƣơng 8 nghìn tấn/ngày) đƣợc xử lý bằng phƣơng pháp đốt. Nha Trang là một thành phố ven biển, là một trung tâm du lịch lớn của cả nƣớc với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, điều kiện thiên nhiên ƣu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử, nhân văn và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa.
3 Trong những năm gần đây, thành phố Nha Trang phát triển và đô thị hóa nhanh. Hiện nay trên địa bàn thành phố Nha Trang đã và đang hình thành rất nhiều khu đô thị mới.Trong quá trình phát triển, thành phố Nha Trang đã tạo một lƣợng lớn rác thải, gây ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Trong đó nguyên nhân chính là ý thức của ngƣời dân và khách du lịch chƣa cao, vẫn còn tình trạng xả rác bừa bãi không đúng quy định, nhất là khu vực bờ biển, kênh hồ. Lƣợng rác thải thu gom hằng năm tăng, cụ thể: Hiện nay, mỗi ngày thành phố Nha Trang thải ra khoảng 520 đến 550 tấn rác thải sinh hoạt.
Trên địa bàn thành phố, ngƣời dân chƣa thực hiện phân loại rác tại nguồn. Công tác thu gom rác sinh hoạt do Công ty CP môi trƣờng đô thị Nha Trang phụ trách toàn bộ ở các khu dân cƣ tập trung và các tuyến đƣờng chính trên địa bàn của 27 xã, phƣờng. Lƣợng rác thải thu gom qua các năm tăng đáng kể, năm 2017: 177. Phƣơng pháp xử lý từ trƣớc đến nay là chôn lấp.
Trƣớc đây thành phố Nha Trang đã quy hoạch bãi rác Rù Rì, diện tích 6,6 ha đã đầy và đóng cửa từ tháng 9/2014, bãi rác Lƣơng Hòa, xã Vĩnh Lƣơng đang hoạt động, diện tích 12,8 ha, dự kiến bãi rác này sẽ đầy và đóng cửa vào năm 2023. Hiện tại, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có chủ trƣơng giao Sở Kế hoạch và Đầu tƣ và Sở tài nguyên môi trƣờng lựa chọn công nghệ xử lý rác tiên tiến, phù hợp với điều kiện địa phƣơng để xử lý CTR sau khi bãi rác Lƣơng Hòa đầy, dự kiến nhà máy sẽ đặt gần bãi rác Lƣơng Hòa, có diện tích 5,5 ha. Chính vì thế, việc nghiên cứu hành vi của ngƣời dân trong công tác quản lý CTRSH ở thành phố Nha Trang là việc làm cần thiết, phù hợp với chủ trƣơng đầu tƣ nhà máy xử lý CTR của Nhà nƣớc. Qua đó, giúp cho việc đánh giá sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của ngƣời dân và nhà nƣớc trong công tác này, đồng thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hƣởng đến sự tham gia của ngƣời dân, đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình, hoàn thiện chính sách của chính quyền khi đƣa nhà máy vào hoạt động.
Đề tài “Các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của ngƣời dân trên địa bàn thành phố Nha Trang” là cấp thiết, góp phần xác định và đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến hoạt động 4 phân loại CTR sinh hoạt tại thành phố Nha Trang. Từ đó có những đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề này. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu: 1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Đề tài nghiên cứu Các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của ngƣời dân trên địa bàn thành phố Nha Trang, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác phân loại và xử lý chất thải rắn, hƣớng tới thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đô thị.
Đồng thời, sẽ có các giải pháp nhằm nâng cao ý thức của ngƣời dân và giúp ban lãnh đạo có những chủ trƣơng trong công cuộc đầu tƣ cơ sở hạ tầng quản lý và xử lý CTR. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của ngƣời dân Tp. Mục tiêu 2: Thực hiện đo lƣờng và đánh giá mức độ ảnh hƣởng của từng yếu tố đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của ngƣời dân Tp. Mục tiêu 3: Nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định của ngƣời dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Tp.
Câu hỏi nghiên cứu Cần trả lời đƣợc các câu hỏi dƣới đây, để thực hiện đƣợc các mục tiêu đã nêu nhƣ trên Câu hỏi 1: Các yếu tố ảnh hƣởng đến ý định của ngƣời dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn gồm những yếu tố nào? 5 Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hƣởng từng yếu tố đến ý định của ngƣời dân trong hoạt động PLCTR sinh hoạt tại nguồn tại Tp. Nha Trang nhƣ thế nào? Câu hỏi 3: Hàm ý quản trị nào cần thiết nhằm nâng cao ý định của ngƣời dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn tại Tp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Đối tƣợng khảo sát: những ngƣời dân đang sống trên địa bàn Tp.
Phạm vi thời gian: Tháng 7/2020 đến tháng 10/2020. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu định lƣợng thực hiện gồm 2 bƣớc: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Phƣơng pháp nghiên cứu định tính Bằng cách phỏng vấn sâu để giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Mục đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ sung thang đo đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến ý định của ngƣời dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn.
Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng Nghiên cứu định lƣợng sơ bộ: đƣợc thực hiện để điều chỉnh thang đo sơ bộ đã xây dựng trong nghiên cứu định tính, đƣợc sử dụng trong nghiên cứu nhằm loại bỏ bớt các biến đo lƣờng không đạt yêu cầu. Nghiên cứu định lƣợng chính thức: Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn sâu ý định của ngƣời dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn.