Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh trường đại học công nghiệp thực phẩm 60

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại trường đại học công nghiệp thực phẩm.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

170
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của nghiên cứu

1.6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp

2.2. Định nghĩa về ý định khởi nghiệp

2.3. Các lý thuyết liên quan đến ý định khởi nghiệp

2.4. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến ý định khởi nghiệp

2.5. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến ý định khởi nghiệp

2.6. Khoảng trống nghiên cứu

2.7. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Giới thiệu chương 3

3.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu định tính

3.3.2. Nghiên cứu định lượng

3.4. Thang đo nghiên cứu

3.5. Kết quả nghiên cứu định tính

3.6. Nghiên cứu sơ bộ

3.7. Thiết kế nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.8. Mô tả mẫu khảo sát

3.9. Đánh giá độ tin cậy thang đo

3.10. Mô hình nghiên cứu và thang đo nghiên cứu chính thức

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thiết kế nghiên cứu định lượng chính thức

4.2. Thu thập dữ liệu

4.3. Phương pháp xử lý số liệu

4.4. Thông tin mẫu nghiên cứu

4.5. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s alpha

4.6. Đam mê kinh doanh

4.7. Chuẩn chủ quan

4.8. Nhận thức kiểm soát hành vi

4.9. Tài chính

4.10. Tham gia các khóa học khởi nghiệp

4.11. Ý định khởi nghiệp

4.12. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.12.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối HUFI

4.13. Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh

4.14. Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối trường Đại học Công Nghiệp Thực Phẩm TP.

4.15. Phân tích tương quan

4.16. Phân tích hồi quy và kiểm định mô hình

4.17. Phân tích hồi quy

4.18. Đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy

4.19. Kiểm định độ phù hợp của mô hình

4.20. Kiểm định về ý nghĩa của hệ số hồi quy

4.21. Kiểm định sự khác biệt trong ý định khởi nghiệp của sinh viên theo một số đặc điểm riêng

4.21.1. Kiểm định sự khác biệt theo “Giới tính” của sinh viên

4.21.2. Kiểm định sự khác biệt theo “Năm học” của sinh viên

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Giới thiệu chương 5

5.2. Kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên HUFI sau khi ra trường

5.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên HUFI

5.3.1. Giải pháp đối với bản thân sinh viên

5.3.2. Giải pháp đối với chương trình giảng dạy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CRONBACH’S ALPHA

PHỤ LỤC 6: PHÂN TÍCH HỒI QUY

Tóm tắt

I. Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Khởi nghiệp đang trở thành một xu hướng quan trọng trong xã hội hiện đại, đặc biệt là đối với sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh. Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó giúp nâng cao tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng sinh viên. Các yếu tố này bao gồm động lực khởi nghiệp, thái độ của sinh viên, và môi trường hỗ trợ từ trường học.

1.1. Động lực khởi nghiệp và tầm quan trọng của nó

Động lực khởi nghiệp là yếu tố chính thúc đẩy sinh viên quyết định khởi nghiệp. Theo nghiên cứu, những sinh viên có đam mê và mong muốn tự do tài chính thường có ý định khởi nghiệp cao hơn. Việc hiểu rõ động lực này giúp các trường đại học thiết kế chương trình giảng dạy phù hợp.

1.2. Thái độ của sinh viên đối với khởi nghiệp

Thái độ tích cực của sinh viên đối với khởi nghiệp có thể ảnh hưởng lớn đến quyết định khởi nghiệp của họ. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có thái độ tích cực thường tham gia nhiều hơn vào các hoạt động khởi nghiệp và có xu hướng tìm kiếm cơ hội kinh doanh.

II. Các thách thức trong việc khởi nghiệp của sinh viên hiện nay

Mặc dù có nhiều cơ hội, sinh viên vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức khi khởi nghiệp. Những thách thức này bao gồm thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn, và áp lực từ gia đình. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là rất quan trọng để khuyến khích sinh viên tham gia vào khởi nghiệp.

2.1. Thiếu kinh nghiệm và kiến thức khởi nghiệp

Nhiều sinh viên không có đủ kiến thức và kinh nghiệm cần thiết để bắt đầu một doanh nghiệp. Điều này dẫn đến sự e ngại và thiếu tự tin trong việc thực hiện ý tưởng khởi nghiệp của họ.

2.2. Áp lực tài chính và nguồn vốn khởi nghiệp

Thiếu vốn là một trong những rào cản lớn nhất đối với sinh viên khi khởi nghiệp. Nhiều sinh viên không có khả năng tiếp cận các nguồn tài chính cần thiết để hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình.

III. Phương pháp nâng cao ý định khởi nghiệp cho sinh viên

Để khuyến khích sinh viên khởi nghiệp, các trường đại học cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những phương pháp này bao gồm tổ chức các khóa học khởi nghiệp, cung cấp hỗ trợ tài chính, và tạo ra môi trường khởi nghiệp tích cực.

3.1. Tổ chức các khóa học và chương trình đào tạo khởi nghiệp

Các khóa học khởi nghiệp giúp sinh viên trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để bắt đầu doanh nghiệp. Những chương trình này nên bao gồm các chủ đề như lập kế hoạch kinh doanh, quản lý tài chính, và marketing.

3.2. Cung cấp hỗ trợ tài chính cho sinh viên khởi nghiệp

Hỗ trợ tài chính từ trường học hoặc các tổ chức bên ngoài có thể giúp sinh viên vượt qua rào cản tài chính. Các quỹ khởi nghiệp hoặc chương trình tài trợ có thể tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện ý tưởng của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp khuyến khích khởi nghiệp có thể tạo ra những kết quả tích cực. Sinh viên tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp có xu hướng tự tin hơn và có khả năng thành công cao hơn trong việc thực hiện ý tưởng kinh doanh.

4.1. Kết quả từ các chương trình khởi nghiệp tại trường

Nhiều trường đại học đã triển khai các chương trình khởi nghiệp và nhận thấy sự gia tăng đáng kể trong số lượng sinh viên tham gia khởi nghiệp. Những chương trình này không chỉ giúp sinh viên phát triển kỹ năng mà còn tạo ra một cộng đồng khởi nghiệp mạnh mẽ.

4.2. Những câu chuyện thành công từ sinh viên khởi nghiệp

Nhiều sinh viên đã thành công trong việc khởi nghiệp sau khi tham gia các chương trình hỗ trợ. Những câu chuyện này không chỉ truyền cảm hứng mà còn chứng minh rằng với sự hỗ trợ đúng đắn, sinh viên có thể biến ý tưởng thành hiện thực.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về khởi nghiệp của sinh viên

Khởi nghiệp là một xu hướng quan trọng trong xã hội hiện đại. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên sẽ giúp các trường đại học và các tổ chức liên quan có những chính sách phù hợp để hỗ trợ sinh viên. Tương lai của khởi nghiệp trong sinh viên sẽ phụ thuộc vào sự kết hợp giữa giáo dục, hỗ trợ tài chính và môi trường khởi nghiệp.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục khởi nghiệp

Giáo dục khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên. Các trường cần chú trọng hơn đến việc giảng dạy các kỹ năng khởi nghiệp và tạo ra môi trường học tập tích cực.

5.2. Triển vọng khởi nghiệp trong tương lai

Với sự phát triển của công nghệ và các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, triển vọng khởi nghiệp của sinh viên ngày càng sáng sủa. Các sinh viên cần nắm bắt cơ hội này để phát triển bản thân và đóng góp cho nền kinh tế.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Đồng thời, tác giả cũng trình bày ý nghĩa và kết cấu của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN Giới thiệu chương 2: Trong chương 2, tác giả giới thiệu các khái niệm, lý thuyết và mô hình liên quan đến đề tài. Đồng thời lược khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước.

Từ đó đúc kết ra những nhân tố ảnh hưởng, giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp 2. Định nghĩa về ý định khởi nghiệp Theo Ajzen (2002), ý định hành vi được giả định là tiền đề trung gian của hành vi. Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước.

Trong khi đó Krueger (2003) lại định nghĩa rằng ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành vi nào đó. Khởi nghiệp theo Bird (1988) định nghĩa khởi nghiệp là bắt đầu hoặc tạo dựng một công việc kinh doanh mới. Hay Khởi nghiệp “là việc một cá nhân hay nhóm người chấp nhận rủi ro để tạo dựng một doanh nghiệp mới” (Ajzen, 1991). Khởi nghiệp gắn liền với phát triển kinh tế và tạo của cải, giới thiệu các sản phẩm chu trình giải pháp và dịch vụ mới cho người tiêu dùng và các nhà sản xuất, là công việc có ý nghĩa cho những người thích quyền lực, thách thức và là cơ hội để phát huy tính sáng tạo.

Bên cạnh đó thì Carree và Thurik (2003) lại cho rằng hoạt động khởi nghiệp trong nền kinh tế tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội, những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Khởi nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trên 3 phương diện: tăng cường đổi mới và chuyển giao tri thức, tăng cạnh tranh và tăng cường mức độ đa dạng hóa trong ngành và trong doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc khởi nghiệp trong giới trẻ, đặc biệt trong giới sinh viên khuyến khích họ không đi làm thuê mà hãy tự tạo việc làm, gia tăng số lượng doanh nghiệp cho phát triển kinh tế. 7 Ý định khởi nghiệp: Xuất phát từ các lý thuyết về nhận thức xã hội (social cognitive theory) và lý thuyết về hành vi hợp lý, nhiều nghiên cứu trên nền tảng quan điểm nghiên cứu của Ajzen (1991), Krueger và cộng sự (2000) đã phát triển mảng nghiên cứu về dự định khởi nghiệp đã cho rằng khởi nghiệp là một loại hành vi có kế hoạch.

Mặc dù các doanh nhân khởi nghiệp là để khai thác, tận dụng một cơ hội của thị trường nhưng trước khi đi tới quyết định thành lập doanh nghiệp, một doanh nhân đã phải nghĩ tới, ham thích và có ý định khởi nghiệp, từ đó họ mới tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm tài chính và đối tác. Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng dự định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là “ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp mới”; Krueger và cộng sự (2000) là “một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp”, dự định được bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp có vai trò quan trọng tới cả hành trình khởi nghiệp của các cá nhân và gián tiếp thúc đẩy hoạt động sáng tạo, tính năng động của nền kinh tế và giải quyết vấn đề việc làm (Delmar & cộng sự, 2003). Nghiên cứu của Armitage & Corner (2011) cho thấy ý định dự báo được khoảng 50% hành vi trong thực tế.

Bởi vậy, việc hiểu rõ cơ chế tác động tới ý định khởi nghiệp được xem là biện pháp hiệu quả để nâng cao số lượng và chất lượng doanh nhân khởi nghiệp của quốc gia bởi “doanh nhân được tạo ra chứ không phải được sinh ra” (Boulton & Turner, 2005). Do đó, để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp và văn hóa khởi nghiệp đối với sinh viên cần bắt đầu từ việc nâng cao ý định khởi nghiệp của họ thông qua đánh giá các nhân tố khởi nguồn của ý định khởi nghiệp. Dựa vào quan điểm của lý thuyết về hành vi có kế hoạch, hoạt động khởi nghiệp không phải hành động của một thời điểm mà nó là kết quả của cả một quá trình. Quá trình này bắt đầu từ cá nhân có dự định khởi nghiệp; trong những điều kiện thuận lợi của môi trường dự định sẽ biến thành hành động.

Hành động khởi nghiệp diễn ra nếu một cá nhân có thái độ tốt, có suy nghĩ, dự định về hành động đó. Qua đó tác giả định nghĩ về ý định khởi nghiệp như sau “Ý định khởi nghiệp là những suy nghĩ, là tiền đề để một cá nhân đi tới quyết định hành động tạo lập một doanh 8 nghiệp mới trong tương lai”. Đó là cả một quá trình chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau sẽ được tác giả tổng hợp và phân tích ở phần tiếp theo. Các lý thuyết liên quan đến ý định khởi nghiệp 2.

Lý thuyết sự kiện khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) (The entrepreneurial event – SEE) Tác giả Shapero và Sokol (1982) đã cho rằng ý định khởi nghiệp là một sự kiện bị tác động bởi những thay đổi trong đời sống con người. Đó là những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của cá nhân đó, từ đó ảnh hưởng đến thái độ của một cá nhân đối với việc khởi sự kinh doanh, những thay đổi này có thể là yếu tố đẩy (tiêu cực) hoặc yếu tố kéo (tích cực). Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh là: Cảm nhận về tính khả thi và cảm nhận về mong muốn. Cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp được thể hiện qua suy nghĩ của một cá nhân nào đó về sự hấp dẫn của việc khởi nghiệp, suy nghĩ này được hình thành một thời gian dài qua các yếu tố như văn hóa, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và người thân.

Văn hóa ở đây sẽ tác động đến suy nghĩ của các cá nhân qua việc ví dụ một xã hội đánh giá cao các doanh nhân thì cá nhân đó cũng sẽ thích trở thành doanh nhân trong tương lai. Cảm nhận về tính khả thi khi khởi sự kinh doanh sẽ thể hiện qua việc suy nghĩ của cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi khi khởi nghiệp, điều này liên quan đến các yếu tố như khả năng về tài chính, ảnh hưởng của thần tượng doanh nhân, đối tác và sự hỗ trợ tư vấn của các thể chế trong quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp đều có thể tăng cảm nhận của một cá nhân về tính khả thi. 9 Bị đuổi việc Thay đổi trong Nhân tố đẩy tiêu Cảm nhận về công ty cực tính khả thi Thiếu thỏa mãn công việc Dư thừa thời gian Không thích hợp Sự kiện khởi sự Thay đổi kinh doanh Có nguồn tài trợ tài chính Có khách hàng Nhân tố đẩy tích Cảm nhận về cực mong muốn Được đề nghị hợp tác Hình 2. Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE Nguồn: Shapero và Sokol (1982) 2.

Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action- TRA) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian từ đầu những năm 70 bởi Ajzen và Fishbein (1980). Thuyết Hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực.

Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan. 10 Trong đó, yếu tố thái độ của một cá nhân đối với hành vi thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của cá nhân đối với hành vi dự định. Có thể hiểu là cảm giác về sở thích của cá nhân đến việc khởi nghiệp trong nghiên cứu này. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, …); những người này thích hay không thích họ mua.

Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đẩy người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với người tiêu dùng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ. Niềm tin của người tiêu dùng vào những người có liên quan càng lớn thì xu hướng chọn mua của họ cũng bị ảnh hưởng càng lớn.

Ý định mua của người tiêu dùng sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau. 11 Hạn chế của mô hình TRA: Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được bởi vì mô hình này bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân. Niềm tin đối với thuộc tính sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên mua sản phẩm Chuẩn chủ quan Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Hình 2. Thuyết hành động hợp lý TRA Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw (1989) 2.

Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) là sự phát triển cải tiến của thuyết hành động hợp lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Khởi Nghiệp Của Sinh Viên Quản Trị Kinh Doanh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên trong lĩnh vực quản trị kinh doanh. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố như môi trường học tập, sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ năng và kiến thức chuyên môn trong việc hình thành ý định khởi nghiệp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp họ hiểu rõ hơn về động lực và rào cản trong quá trình khởi nghiệp, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong các lĩnh vực khác, hãy tham khảo tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại trường đại học công nghiệp thành phố hồ chí minh hoặc Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành công nghệ thông tin tại thành phố hồ chí minh compressed. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về vấn đề khởi nghiệp trong các ngành học khác nhau.