Chương 1, tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Đồng thời, tác giả cũng trình bày ý nghĩa và kết cấu của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN Giới thiệu chương 2: Trong chương 2, tác giả giới thiệu các khái niệm, lý thuyết và mô hình liên quan đến đề tài. Đồng thời lược khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước.
Từ đó đúc kết ra những nhân tố ảnh hưởng, giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. Cơ sở lý luận về ý định khởi nghiệp 2. Định nghĩa về ý định khởi nghiệp Theo Ajzen (2002), ý định hành vi được giả định là tiền đề trung gian của hành vi. Ý định hành vi ngụ ý sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi cho trước.
Trong khi đó Krueger (2003) lại định nghĩa rằng ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành vi nào đó. Khởi nghiệp theo Bird (1988) định nghĩa khởi nghiệp là bắt đầu hoặc tạo dựng một công việc kinh doanh mới. Hay Khởi nghiệp “là việc một cá nhân hay nhóm người chấp nhận rủi ro để tạo dựng một doanh nghiệp mới” (Ajzen, 1991). Khởi nghiệp gắn liền với phát triển kinh tế và tạo của cải, giới thiệu các sản phẩm chu trình giải pháp và dịch vụ mới cho người tiêu dùng và các nhà sản xuất, là công việc có ý nghĩa cho những người thích quyền lực, thách thức và là cơ hội để phát huy tính sáng tạo.
Bên cạnh đó thì Carree và Thurik (2003) lại cho rằng hoạt động khởi nghiệp trong nền kinh tế tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội, những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Khởi nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trên 3 phương diện: tăng cường đổi mới và chuyển giao tri thức, tăng cạnh tranh và tăng cường mức độ đa dạng hóa trong ngành và trong doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc khởi nghiệp trong giới trẻ, đặc biệt trong giới sinh viên khuyến khích họ không đi làm thuê mà hãy tự tạo việc làm, gia tăng số lượng doanh nghiệp cho phát triển kinh tế. 7 Ý định khởi nghiệp: Xuất phát từ các lý thuyết về nhận thức xã hội (social cognitive theory) và lý thuyết về hành vi hợp lý, nhiều nghiên cứu trên nền tảng quan điểm nghiên cứu của Ajzen (1991), Krueger và cộng sự (2000) đã phát triển mảng nghiên cứu về dự định khởi nghiệp đã cho rằng khởi nghiệp là một loại hành vi có kế hoạch.
Mặc dù các doanh nhân khởi nghiệp là để khai thác, tận dụng một cơ hội của thị trường nhưng trước khi đi tới quyết định thành lập doanh nghiệp, một doanh nhân đã phải nghĩ tới, ham thích và có ý định khởi nghiệp, từ đó họ mới tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm tài chính và đối tác. Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng dự định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là “ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp mới”; Krueger và cộng sự (2000) là “một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp”, dự định được bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp có vai trò quan trọng tới cả hành trình khởi nghiệp của các cá nhân và gián tiếp thúc đẩy hoạt động sáng tạo, tính năng động của nền kinh tế và giải quyết vấn đề việc làm (Delmar & cộng sự, 2003). Nghiên cứu của Armitage & Corner (2011) cho thấy ý định dự báo được khoảng 50% hành vi trong thực tế.
Bởi vậy, việc hiểu rõ cơ chế tác động tới ý định khởi nghiệp được xem là biện pháp hiệu quả để nâng cao số lượng và chất lượng doanh nhân khởi nghiệp của quốc gia bởi “doanh nhân được tạo ra chứ không phải được sinh ra” (Boulton & Turner, 2005). Do đó, để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp và văn hóa khởi nghiệp đối với sinh viên cần bắt đầu từ việc nâng cao ý định khởi nghiệp của họ thông qua đánh giá các nhân tố khởi nguồn của ý định khởi nghiệp. Dựa vào quan điểm của lý thuyết về hành vi có kế hoạch, hoạt động khởi nghiệp không phải hành động của một thời điểm mà nó là kết quả của cả một quá trình. Quá trình này bắt đầu từ cá nhân có dự định khởi nghiệp; trong những điều kiện thuận lợi của môi trường dự định sẽ biến thành hành động.
Hành động khởi nghiệp diễn ra nếu một cá nhân có thái độ tốt, có suy nghĩ, dự định về hành động đó. Qua đó tác giả định nghĩ về ý định khởi nghiệp như sau “Ý định khởi nghiệp là những suy nghĩ, là tiền đề để một cá nhân đi tới quyết định hành động tạo lập một doanh 8 nghiệp mới trong tương lai”. Đó là cả một quá trình chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau sẽ được tác giả tổng hợp và phân tích ở phần tiếp theo. Các lý thuyết liên quan đến ý định khởi nghiệp 2.
Lý thuyết sự kiện khởi sự kinh doanh của Shapero và Sokol (1982) (The entrepreneurial event – SEE) Tác giả Shapero và Sokol (1982) đã cho rằng ý định khởi nghiệp là một sự kiện bị tác động bởi những thay đổi trong đời sống con người. Đó là những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của cá nhân đó, từ đó ảnh hưởng đến thái độ của một cá nhân đối với việc khởi sự kinh doanh, những thay đổi này có thể là yếu tố đẩy (tiêu cực) hoặc yếu tố kéo (tích cực). Điều này được thể hiện ở hai khía cạnh là: Cảm nhận về tính khả thi và cảm nhận về mong muốn. Cảm nhận về mong muốn khởi nghiệp được thể hiện qua suy nghĩ của một cá nhân nào đó về sự hấp dẫn của việc khởi nghiệp, suy nghĩ này được hình thành một thời gian dài qua các yếu tố như văn hóa, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và người thân.
Văn hóa ở đây sẽ tác động đến suy nghĩ của các cá nhân qua việc ví dụ một xã hội đánh giá cao các doanh nhân thì cá nhân đó cũng sẽ thích trở thành doanh nhân trong tương lai. Cảm nhận về tính khả thi khi khởi sự kinh doanh sẽ thể hiện qua việc suy nghĩ của cá nhân về khả năng thực hiện các hành vi khi khởi nghiệp, điều này liên quan đến các yếu tố như khả năng về tài chính, ảnh hưởng của thần tượng doanh nhân, đối tác và sự hỗ trợ tư vấn của các thể chế trong quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp đều có thể tăng cảm nhận của một cá nhân về tính khả thi. 9 Bị đuổi việc Thay đổi trong Nhân tố đẩy tiêu Cảm nhận về công ty cực tính khả thi Thiếu thỏa mãn công việc Dư thừa thời gian Không thích hợp Sự kiện khởi sự Thay đổi kinh doanh Có nguồn tài trợ tài chính Có khách hàng Nhân tố đẩy tích Cảm nhận về cực mong muốn Được đề nghị hợp tác Hình 2. Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE Nguồn: Shapero và Sokol (1982) 2.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action- TRA) Thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian từ đầu những năm 70 bởi Ajzen và Fishbein (1980). Thuyết Hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội. Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực.
Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan. 10 Trong đó, yếu tố thái độ của một cá nhân đối với hành vi thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của cá nhân đối với hành vi dự định. Có thể hiểu là cảm giác về sở thích của cá nhân đến việc khởi nghiệp trong nghiên cứu này. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, …); những người này thích hay không thích họ mua.
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đẩy người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với người tiêu dùng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ. Niềm tin của người tiêu dùng vào những người có liên quan càng lớn thì xu hướng chọn mua của họ cũng bị ảnh hưởng càng lớn.
Ý định mua của người tiêu dùng sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau. 11 Hạn chế của mô hình TRA: Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được bởi vì mô hình này bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố xã hội mà trong mà trong thực tế có thể là một yếu tố quyết định đối với hành vi cá nhân. Niềm tin đối với thuộc tính sản phẩm Thái độ Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Niềm tin về những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên mua sản phẩm Chuẩn chủ quan Đo lường niềm tin đối với những thuộc tính của sản phẩm Hình 2. Thuyết hành động hợp lý TRA Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw (1989) 2.
Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) là sự phát triển cải tiến của thuyết hành động hợp lý.