CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương sau. Tiếp theo, chương 2 sẽ đi vào phần cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 2.1 Khái niệm về đào tạo trực tiếp Theo phương pháp truyến thống từ xưa đến nay, học trực tiếp là hình thức giáo viên/giảng viên và sinh viên cùng nhau đến lớp giảng dạy và thảo luận chung.
Giáo viên/giảng viên sẽ thực hiện bài giảng của mình và tương tác trực tiếp với sinh viên một cách tức thời. Sinh viên sẽ thực hiện các bài học, bài thi dưới sự hướng dẫn hoặc giám sát trực tiếp từ giáo viên và các bộ phận có liên quanTruyền miệng điện tử (electronic Word of Mouth – eWOM).2 Khái niệm về đào tạo trực tuyến Theo Wang, Shannon, và Ross (2013); Wilde and Hsu (2019), học trực tuyến là loại hình học tập mà người học và giáo viên được tách biệt nhau về mặt địa lý và cần có các thiết bị hỗ trợ trong quá trình học. Công nghệ được sử dụng để tạo điều kiện tương tác giữa học sinh và giáo viên. Hơn nữa, Rapanta và cộng sự (2020) định nghĩa học trực tuyến là học qua môi trường Internet dựa trên e-learning, trái ngược với học trực tiếp diễn ra trong phạm vi lớp học.
Theo quan niệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam về dạy học trực tuyến được trình bày trong Dự thảo Thông tư ban hành về Quản lí tổ chức dạy học trực tuyến đối với các cơ sở giáo dục phổ thông: “Dạy học trực tuyến được hiểu là dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi trường internet, đảm bảo giáo viên và học sinh tương tác đồng thời hoặc không đồng thời trong quá trình dạy học”.3 Hình thức học chủ động hoàn toàn (MOOC) Theo Huang et a (2017), khóa học trực tuyến mở rộng (Massive open online course- MOOC) là một mô hình giáo dục sáng tạo. Nó có tiềm năng thay đổi phương pháp dạy và học trong lớp học truyền thống của trường đại học, cũng như thúc đẩy một cuộc cách mạng về mô hình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, công nghệ học tập, v. Động lực của MOOC đối với giáo dục đại học dần dần xuất hiện khi nền tảng này ngày 8 càng phổ biến. Các sáng kiến và nền tảng MOOC đã được tạo ra bởi các trường đại học trên toàn thế giới (Jung & Lee, 2018).
Evans et al., (2016) cho rằng, MOOC khác với các hệ thống học tập điện tử truyền thống khác ở chỗ chúng đã đạt được điều gì đó mà các khóa học trực tuyến khác chưa đạt được. Còn theo (Shao, 2018), từ " “massive - khổng lồ" xuất hiện trong đầu khi nghĩ về MOOCs. MOOC có thể giúp một số lượng lớn sinh viên từ nhiều địa điểm, nhưng một nền tảng học trực tuyến tiêu chuẩn thường chỉ dành cho một số ít người. Người học có quyền truy cập không hạn chế vào nền tảng bất kỳ lúc nào và từ bất kỳ nơi nào.
MOOC cũng bao gồm các tính năng đáng chú ý khác, chẳng hạn như đánh giá tự động và đánh giá đồng nghiệp có thể tùy chỉnh, góp phần mang lại trải nghiệm học tập thú vị và hấp dẫn (Duderstadt, 2012). Hơn nữa, theo (Daniel, 2012; LeCounte & Johnson, 2015), các khóa học MOOC thường luôn được cung cấp bởi các trường cao đẳng hàng đầu và dưới dạng video vi mô kết hợp với các câu đố mang tính xây dựng có thể truy cập thông qua một loạt các thiết bị công nghệ.4 Hình thức học chủ động hoàn toàn (Zoom) Zoom là dịch vụ truyền hình cộng tác, cung cấp các tính năng bao gồm những cuộc họp trực tuyến, dịch vụ tin nhắn chung cho nhóm và ghi âm hình ảnh của các phiên họp một cách an toàn (Zoom Video Communication Inc, 2016) Zoom là nền tảng cung cấp khả năng giao tiếp thời gian thực của các thành viên tham gia bị phân tán về mặt địa lý, thông qua các phương tiện thiết bị điện tử như máy tính, máy tính bảng, thiết bị di động. Công nghệ Zoom Zoom thân thiện với người dùng vì sự đơn giản, bảo mật quyền riêng tư của người sử dụng, ngoài ra các vấn đề liên quan đến việc thiết lập cuộc gọi, chất lượng âm thanh đôi lúc gặp nhiều khó khăn do kết nối đường truyền mạng.5 Hình thức học chủ động kết hợp thụ động (kết hợp giữa Zoom và E-learning) Các trường Đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức học trực tuyến theo hình thức kết hợp giữa hình thức chủ động (Zoom, Teams.) với các hình thức học bị động 9 (E-learning, MLS.) để nâng cao hiệu quả học tập cho sinh viên, và trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trường áp dụng hình thức này sớm nhất để sinh viên tiếp cận, sinh viên có thể cập nhật tài liệu học tập trên phần mềm E-learning và MLS, lịch học cũng được giảng viên thông báo và cùng nhau lên Zoom học trực tiếp cùng giáo viên. Nếu chúng ta kết hợp giữa hình thức E-learning và Zoom, chất lượng dạy và học được nâng cao hơn ở chỗ sinh viên được giáo viên giải đáp thắc mắc kịp thời, giáo viên đánh giá được mức độ tự học lý thuyết và thực hành của sinh viên ở nhà như thế nào.
Ngoài ra sinh viên có thể chủ động được thời gian học kiến thức và lý thuyết của mình một cách hợp lý.2 Khái niệm về ý định và ý định học trực tuyến 2.1 Ý định tiếp tục học trực tuyến Theo Ajzen (1991), thành phần động lực của một hành động là mức độ nỗ lực có ý thức mà một người sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi đó. Do đó, ý định tiếp tục học trực tuyến có thể được định nghĩa là mong muốn và sự sẵn sàng đăng ký để đổi lại sản phẩm hoặc dịch vụ. Hành vi học từ xa của sinh viên bị ảnh hưởng nhiều bởi ý định tiếp tục học trực tuyến.2 Mối quan hệ giữa ý định và quyết định hành vi Bước đầu tiên để dự đoán hành vi tiếp tục thực hiện là dự đoán ý định của người thực hiện hành vi đó (Howard và Sheth, 1969). Kể từ đó, ý định của đối tượng tiếp tục thực hiện được sử dụng để dự báo nhu cầu trong tương lai (Warshaw, 1980; Bagozzi, 1983; Fishbein và Ajzen, 1975).
Do đó, ước tính lượng sinh viên tiếp tục theo học trực tuyến trong tương lai dựa trên ý định của các cá nhân là sinh viên đang theo học trực tuyến tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh 10 2.3 Cơ sở lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT - Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) UTAUT là viết tắt của từ “Unified Theory of Acceptance and Use of Technology”, tạm dịch là lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ. Mô hình này được Venkatesh & Davis, 2000 xây dựng với mục tiêu đánh giá khả năng chấp nhận công nghệ và áp dụng một phương pháp luận thống nhất hơn. Mô hình này là sự kết hợp của tám mô hình gồm: TRA (Theory of Reasoned Action) TAM (Technology Acceptance Model) MM (Motivation Model) TPB (Theory of Planned Behavior) C-TAM-TPB (A Model Combining TAM and TPB) MPCU (Model of PC Utilization) IDT (Innovation Diffusion Theory) SCT (Social Cognitive Theory) Sự tự Kinh nghiệm Giới tính Tuổi nguyện Kỳ vọng hiệu quả Kỳ vọng nổ lực Hành Ý định Ảnh hưởng xã Hành vi vi sử hội dụng Điều kiện thuận lợi Hình 2.1 Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Nguồn: Venkatesh et al.2 Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF - Task-Technology Fit) Theo mô hình TTF, công nghệ là một công cụ hữu ích có thể được sử dụng để cải thiện hiệu suất cá nhân nếu khả năng của nó phù hợp với các nhiệm vụ mà người dùng phải thực hiện (Goodhue, 1995). Mô hình dự báo mức sử dụng và hiệu suất của người dùng bằng cách sử dụng ba yếu tố quyết định cơ bản: đặc điểm công nghệ, điểm đặc tính của nhiệm vụ và sự phù hợp của nhiệm vụ với công nghệ.
Sự phù hợp về công việc và công nghệ có thể bị ảnh hưởng bởi cả đặc tính công việc và công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến hiệu suất và cách sử dụng của người dùng. TTF sử dụng để điều tra tác động của việc áp dụng và sử dụng công nghệ. Mặc dù những nghiên cứu đã được thực hiện trong các bối cảnh khác nhau để điều tra TTF, nhưng chỉ một số ít được ứng dụng trong bối cảnh học tập trực tuyến. Do mô hình TTF không tính đến các yếu tố ảnh hưởng ở khía cạnh xã hội, nên nó có thể hạn chế khả năng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm xã hội đến ý định tiếp tục sử dụng.
Nghiên cứu trước đây đã bao gồm các khía cạnh xã hội khác. (Wu & Chen, 2017) đã đề xuất một mô hình thống nhất kết hợp TAM, mô hình TTF, các tính năng của MOOC và động lực xã hội. Họ phát hiện ra rằng tính dễ sử dụng và TTF là những chỉ số dự báo quan trọng về ý định tiếp tục sử dụng một khóa học trực tuyến đại chúng mở. Trong khi đó, Wang và cộng sự.
(2021) đã sử dụng lý thuyết xác nhận kỳ vọng (ECT) và TTF để điều tra ý định tiếp tục học trực tuyến của sinh viên đại học trong bối cảnh của Covid-19 ((T. Wang et al.3 Mô hình thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Lý thuyết hành vi hợp lý được phát triển lần đầu vào năm 1967 bởi Fishbein, sau đó đã được sửa đổi và mở rộng bởi Ajzen và Fishbein (1975). Theo lý thuyết này, ý định tham gia một hành vi nhất định được coi là yếu tố dự đoán tốt nhất về việc người đó có thực sự muốn tham gia hành vi đó hay không. Ý định lần lượt có thể được dự đoán thông qua hai yếu tố này được diễn giải như sau: 12 Một là đặc điểm cá nhân - Là đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của cá nhân về việc thực hiện.
Nhân tố này được gọi là “thái độ đối với hành vi khởi nghiệp” (Ajzen & Fishbein, 1980). Hai là sự ảnh hưởng khác từ phía xã hội.