ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Bối cảnh nghiên cứu Năm 2009, Quảng Ngãi đƣợc công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở (THCS) với tỷ lệ 98,8% xã đƣợc công nhận đạt chuẩn phổ cập, tỷ lệ này đƣợc nâng lên thành 99,45% xã vào năm 2016. Thống kê của Sở Giáo dục Quảng Ngãi, tỷ lệ bỏ học của học sinh THCS trên toàn tỉnh Quảng Ngãi đã giảm từ 1,57% năm 2009 xuống còn 0,72% năm 2005. Tuy nhiên tỷ lệ bỏ học giữa chừng của một số địa phƣơng đặc biệt ở khu vực miền núi và ven biển chiếm tỷ lệ cao, tính đến cuối năm 2016 toàn tỉnh có 4,5% trẻ trong độ tuổi 13; 5,8% trẻ trong độ tuổi 14, 8,5% trẻ trong độ tuổi 15 không đến lớp học, trong đó khu vực miền núi và ven biển chiếm đến 78% tổng số học sinh bỏ học. Các xã ven biển thành phố Quảng Ngãi đƣợc sáp nhập vào thành phố từ các huyện Sơn Tịnh và Tƣ Nghĩa theo nghị quyết số 123/NQ-CP của chính phủ năm 2013.
Dân số ở khu vực này chủ yếu sinh sống bằng cách khai thác hải sản và nuôi trồng thủy hải sản chiếm đến 60-70%. Tỷ lệ tàu thuyền khai thác hải sản đứng thứ ba trên toàn tỉnh Quảng Ngãi sau Huyện Bình Sơn và huyện Đức Phổ. Các xã ven biển thành phố Quảng Ngãi là địa phƣơng duy nhất trong tất cả các xã của tỉnh Quảng Ngãi không đạt chuẩn phổ cập THCS vì tỷ lệ bỏ học ở bậc THCS cao và tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi từ 11-18 chƣa tốt nghiệp THCS chiếm tỷ lệ dƣới 75%. Tỷ lệ bỏ học hàng năm ở bậc THCS chiếm 6-7% tổng số trẻ đến trƣờng, và chiếm đến 90% tổng số học sinh toàn thành phố Quảng Ngãi bỏ học.
Khoảng 80% nam giới nghỉ học tham gia đánh bắt hải sản cùng với gia đình hoặc làm thuê cho các chủ phƣơng tiện đánh bắt hải sản tại địa phƣơng và 20% còn lại duy chuyển vào khu vực phía Nam để mƣu sinh. Trƣờng học và chính quyền địa phƣơng tham gia vận động đƣa trẻ quay lại trƣờng và địa phƣơng cấm các chủ tàu thuyền có sử dụng lao động trẻ em ra khơi. Hiệu quả của các công tác này thấp vì gặp sự phản đối của phụ huynh và một số cảng biển tại địa phƣơng nhƣ Cửa Đại bị bồi đắp do vậy các tàu phải neo đậu tại các địa phƣơng khác không cấm lao động trẻ em. Bỏ học sớm trẻ sẽ bị hạn chế các cơ hội tham dự vào các trƣờng đào tạo nghề, và dễ bị phân biệt đối xử khi tham gia thị trƣờng lao động vì thiếu các kỹ năng cần thiết.
Bên cạnh đó, tình trạng thất học liên thế hệ xảy ra đối với những đứa trẻ bỏ học ngày hôm nay sẽ trở thành bố mẹ trong tƣơng lai. Các nghiên cứu đã chứng minh mối tƣơng quan thuận giữa 123doc -3- học vấn của bố mẹ và của con cái (A. Chevalier, 2003), những đứa trẻ bỏ học sớm ngày hôm nay có khả năng tạo ra những thế hệ thất học sau đó. Hậu quả tiếp theo của bỏ học sớm chính là tình trạng “nhân cách” của trẻ phát triển không hoàn chỉnh, đây là điềm báo cho trình trạng tội phạm hoặc hoặc những hành vi lệch lạc sẽ gia tăng trong xã hội.
Vì vậy, việc bỏ học ngày hôm nay không những tác động xấu đến cá nhân ngƣời bỏ học, gia đình, con cái sau này và cho cả xã hội. Chính vì những hệ lụy của việc bỏ học sớm, nghiên cứu tập trung lí giải nguyên nhân dẫn tới tình trạng bỏ học của học sinh THCS ở các xã ven biển thành phố Quảng Ngãi nhằm đề xuất các giải pháp giảm tỷ lệ bỏ học ở địa phƣơng một cách bền vững.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hƣởng tới tỷ lệ bỏ học của học sinh THCS tại 6 xã ven biển thành phố Quảng Ngãi, từ đó đƣa ra những gợi ý chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng bỏ học sớm ở địa phƣơng này. Từ bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài “Các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ bỏ học ở bậc trung học cơ sở tại các xã ven biển thành phố Quảng Ngãi” đƣợc thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ bỏ học của học sinh THCS tại các xã ven biển thành phố Quảng Ngãi? (2) Các chính sách nào cần thực thi để hạn chế tỷ lệ bỏ học của học sinh THCS ở các xã ven biển? Để trả lời câu hỏi thứ nhất, tác giả xác định các yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến tỷ lệ bỏ học thông qua: i) tìm hiểu các nghiên cứu trƣớc để xác định các yếu tố cơ bản ảnh hƣởng đến quyết định tỷ lệ bỏ học ii) nghiên cứu tác động của các nhóm yếu tố cơ bản này trong thực tế bằng cách thu thập số liệu và phỏng vấn đối tƣợng nghiên cứu từ đó xác định các nguyên nhân bỏ học của học sinh. Câu hỏi thứ hai đƣợc trả lời dựa trên nền tảng của câu hỏi thứ nhất để tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế thực trạng bỏ học sớm ở khu vực này.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là những học sinh bỏ học ở bậc THCS, các hộ gia đình có trẻ bỏ học và các trƣờng THCS tại 6 xã ven biển thành phố Quảng Ngãi.
123doc -4- Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại các xã ven biển của thành phố Quảng Ngãi, nghiên cứu đƣợc thực hiện từ 9/2016 đến tháng 7/2017.4 Phƣơng pháp luận Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính để phát hiện các nguyên nhân bỏ học của học sinh THCS. Tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính bởi vì nghiên cứu này tập trung vào một nhóm đặc thù là trẻ em bỏ học ở khu vực ven biển thành phố Quảng Ngãi, nghiên cứu tập trung vào từng tình huống bỏ học cụ thể nhằm đạt đƣợc các góc nhìn sâu sắc về nguyên nhân dừng học của trẻ thay vì nhắm đến số lƣợng thống kê bỏ học. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu đƣợc thu thập thông qua khảo sát trực tiếp các đối tƣợng và các thông tin thứ cấp. Thông tin thứ cấp cung cấp những thông tin tổng quan về địa điểm và vấn đề nghiên cứu, đƣợc cung cấp bởi Sở giáo dục Quảng Ngãi, phòng giáo dục Quảng Ngãi, chi cục thống kê, các trƣờng học, UBND.
Thông tin sơ cấp đƣợc thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp đối tƣợng nghiên cứu, nguồn thông tin này rất cần thiết đối với luận văn vì những nguyên nhân rút trẻ ra khỏi trƣờng học khó có thể thu thập từ thông tin sơ cấp.5 Cấu trúc luận văn Luận văn đƣợc bố cục thành 4 chƣơng, Chƣơng 1 giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu, Chƣơng 2 trình bày về khung lý thuyết, Chƣơng 3 thảo luận kết quả nghiên cứu, cuối cùng Chƣơng 4 kết luận những nguyên nhân bỏ học và đề xuất chính sách dựa trên các phân tích ở Chƣơng 3. 123doc -5- CHƢƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Nhu cầu cho giáo dục Lý thuyết vốn con ngƣời của Becker (1967) cho rằng đi học tăng thêm một năm làm cho thu nhập trong tƣơng lai tăng thêm nhƣng đồng thời cũng tạo ra các chi phí ở hiện tại bao gồm chi phí trực tiếp đến trƣờng và chi phí cơ hội của việc trì hoãn tham gia vào thị trƣờng lao động. Các cá nhân tiếp tục đầu tƣ cho giáo dục miễn là lợi ích biên của một năm đến trƣờng tăng thêm lớn hơn hoặc bằng chi phí biên của việc đi học tăng thêm. Theo Becker, sự khác nhau về suất chiết khấu và suất sinh lợi của giáo dục sẽ quy định sự khác nhau về thời gian đến trƣờng của các cá nhân.
Cá nhân với suất chiết khấu thấp hoặc chi phí đến trƣờng thấp và suất sinh lợi do giáo dục mang lại cao thì thời gian đến trƣờng dài hơn các cá nhân còn lại. Từ khuôn khổ lý thuyết vốn con ngƣời cho thấy rằng, cá nhân là ngƣời quyết định mức độ giáo dục mà họ đạt đƣợc dựa trên việc so sánh giữa chi phí và lợi ích của giáo dục. Chi phí đến trƣờng hoặc các cơ hội mà cá nhân phải đánh đổi để đƣợc đến trƣờng có thể là yếu tố rút trẻ ra khỏi trƣờng học. Nhƣ vậy, các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định dừng học/hoặc tiếp tục đến trƣờng có thể thuộc về các chính sách của chính phủ trong việc quy định chi phí đến trƣờng, hoặc các quy luật thị trƣờng trong việc quy định lợi ích của giáo dục.
Lý thuyết vốn con ngƣời đƣợc giả định rằng không có sự hạn chế về nguồn lực để đầu tƣ cho giáo dục, điều này khó xảy ra ở thực tế. Sự hạn chế về nguồn lực đã tạo ra giới hạn về khả năng phân bổ nguồn lực trong gia đình, Mô hình “Quyết định hộ gia đình về mức độ giáo dục cho trẻ” (Glick & Sahn, 2000) đã giải quyết đƣợc sự hạn chế về nguồn lực ở Lý thuyết vốn con ngƣời của Becker. Trong mô hình này mức độ giáo dục cho trẻ đƣợc xác định sao cho tối đa hóa độ thỏa dụng của bố mẹ trong các điều kiện ràng buộc của hộ gia đình. Giáo dục vừa đƣợc xem là hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa để đầu tƣ.
Bố mẹ đầu tƣ cho giáo dục của trẻ vì họ muốn trẻ đƣợc biết chữ và giáo dục tốt. Đồng thời, bố mẹ đầu tƣ cho giáo dục của trẻ để chắc chắn rằng trẻ sẽ hỗ trợ cuộc sống về sau cho họ. Theo mô hình này, bố mẹ đƣợc giả định sống trong hai giai đoạn. Giai đoạn đầu bố mẹ làm việc và nuôi dƣỡng con cái, thu nhập của bố mẹ giai đoạn đầu đƣợc dùng để tiêu dùng hộ gia đình và đầu tƣ vào giáo dục cho con cái.
Giai đoạn sau bố mẹ về hƣu, tiêu dùng ở giai đoạn này phụ thuộc vào tiền gửi từ thu nhập của trẻ mà khoản này phụ thuộc vào sự đầu tƣ vào giáo dục của bố mẹ ở giai đoạn đầu và một vài đặc điểm của trẻ. Mô hình này cho rằng các yếu 123doc -6- tố chính ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ vào giáo dục cho trẻ phụ thuộc vào các yếu tố: thu nhập của hộ gia đình, các đặc tính của trẻ, chi phí đến trƣờng, các yếu tố khác của hộ gia đình. (1) Thu nhập của hộ gia đình và chi phí đến trường của trẻ Sự gia tăng trong thu nhập của hộ gia đình sẽ làm tăng đầu tƣ cho giáo dục của trẻ. Ngƣợc lại, chi phí trực tiếp tăng sẽ làm giảm nhu cầu đầu tƣ vào việc học ở trẻ của phụ huynh.