Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm lý do hình thành nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, phương pháp thực hiện nghiên cứu. Chương 2 trình bày định nghĩa các khái niệm có liên quan, tổng hợp các nghiên cứu trước từ đó chỉ rõ cơ hội nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu bao gồm: phương pháp chọn mẫu, xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Chương 4 trình bày chi tiết các bước phân tích và diễn dịch kết quả của nghiên cứu bao gồm trình bày kết quả phân tích và đánh giá các thang đo, trình bày kết quả kiểm định mô hình cấu trúc và các giả thuyết nghiên cứu.
Dựa trên kết quả kiểm định, các thảo luận và hàm ý quản trị được trình bày. Chương 5 trình bày tóm tắt kết quả chính của nghiên cứu, nêu những đóng góp chính của đề tài về lý thuyết và thực tiễn. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm: Định nghĩa các khái niệm có liên quan về bệnh án điện tử được trình bày trong mục 2.1; Tổng hợp các nghiên cứu liên quan được trình bày trong mục 2. Từ đó, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được đề xuất trong mục 2.1 CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU 2.
Chính sách của chính phủ về y tế (Government policy - GP) Chính phủ luôn giữ vai trò hết sức quan trọng, quyết định, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nền kinh tế số nói riêng của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc chuyển đổi nhanh sang nền kinh tế số, hướng đến việc xây dựng thành công quốc gia số là một trong những mục tiêu quan trọng của các quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong thời đại công nghệ số 4.0, sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin đang thúc đẩy quá trình cách mạng điện tử hóa ở tất cả các lĩnh vực trong xã hội và ngành Y tế cũng không là ngoại lệ. Ngành Y tế là ngành có sứ mệnh đặc biệt trong chăm lo sức khỏe Nhân dân, góp phần bảo đảm an sinh, an toàn xã hội và phát triển bền vững đất nước.
Để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế, góp phần hiện đại hóa công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, Bộ Y tế đã tiên phong trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về chuyển đổi số theo chỉ đạo của Chính phủ, ngày 28/12/2018, Bộ trưởng Bộ Y tế chính thức ban hành Thông tư số 46/2018/TT-BYT quy định việc lập, sử dụng và quản lý hồ sơ bệnh án điện tử tại các cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc. Những văn bản pháp lý này đã quy định chi tiết rõ ràng đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và hồ sơ bệnh án điện tử nói riêng tại các cơ sở y tế tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc triển khai sử dụng bệnh án điện tử. Bộ Y tế khẳng định việc triển khai bệnh án điện tử hướng tới bệnh viện không sử dụng bệnh án giấy là hết sức cần thiết, là bước đột phá quan trọng để chuyển đổi số hóa của ngành Y tế, đặt nền móng cho sự phát triển y tế điện tử trong thời gian tới. Chính vì vậy, đã có rất nhiều cuộc hội thảo và các cuộc thi ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế được Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế phối hợp và tổ chức trên toàn quốc.
Tiêu biểu như: “Hội nghị đẩy mạnh triển khai bệnh án điện tử tại Đà Nẵng ngày 8 23/07/2019” và Cuộc thi “Y tế thông minh năm 2018” nhằm lắng nghe, thu thập những ý kiến từ các bác sĩ đầu ngành và hơn 40 đơn vị triển khai các giải pháp công nghệ thông tin y tế để tìm kiếm những giải pháp tối ưu trong công nghệ thông tin y tế tại Việt Nam. Chính sách của chính phủ có tác động đáng kể đến quyết định áp dụng các dịch vụ y tế điện tử của Bệnh viện. Tính tương thích (compatibility) Tính tương thích thường đề cập đến mức độ mà sự đổi mới được coi là phù hợp với niềm tin, lối sống, giá trị hiện có, kinh nghiệm trong quá khứ và nhu cầu hiện tại của người sử dụng (Rogers, 1983). Thiếu khả năng tương thích trong công nghệ với nhu cầu cá nhân có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc sử dụng công nghệ của cá nhân (McKenzie, 2001; Sherry,1997).
Tính tương thích có thể ảnh hưởng đáng kể đến cảm nhận người dùng và sau đó ảnh hưởng đến ý định sử dụng của người dùng (Chen và Hsiao, 2012; Handayani Và Cộng Sự, 2017). Bên cạnh đó, Tan và Chou (2008) đã sử dụng quan điểm của TAM mở rộng để khám phá hành vi của người dùng và họ cũng chỉ ra rằng khả năng tương thích giữa công nghệ với nhận thức của người dùng ảnh hưởng đến cảm giác của họ khi sử dụng công nghệ đó. Dựa trên những điều đã nói ở trên, nghiên cứu này cho rằng khả năng tương thích dự kiến sẽ ảnh hưởng tích cực đến nhận thức tính hữu ích, nhận thức dễ sử dụng và ý định sử dụng bệnh án điện tử của các Bác sĩ.3 Sự hỗ trợ của lãnh đạo (Top management support) Việc triển khai công nghệ thông tin thường là hoạt lớn và phức tạp, đặc biệt liên quan đến sự hỗ trợ của lãnh đạo cao nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghệ thông tin trong môi trường y tế (Lian và cộng sự, 2014; Handayani và cộng sự, 2017). Việc triển khai bệnh án điện tử yêu cầu phải triển khai đồng thời các hệ thống phần mềm cơ bản như: HIS, LIS, PACS…, cần chi phí lớn để đầu tư cơ sở hạ tầng, mua phần mềm, rồi duy trì, đầu tư phát triển bởi cơ sở dữ liệu lưu trữ ngày càng lớn.
Do đó, sự hỗ trợ của ban lãnh đạo Bệnh viện ảnh hưởng lớn đến việc khai thác sử dụng Bệnh án điện tử.4 Chất lượng hệ thống thông tin (Information System Quality) Chất lượng hệ thống thông tin đề cập đến mức độ mà bản thân hệ thống có khả năng thực hiện các tác vụ được yêu cầu và ổn định cả về mặt kỹ thuật và thiết kế. Khái niệm về chất lượng hệ thống thông tin là một thách thức vì chất lượng hệ thống thông tin phụ thuộc vào nhu cầu của người dùng tương ứng và có thể thay đổi liên tục do những tiến bộ trong công nghệ và đổi mới (Quattrone and Hopper, 2006). Palvia và cộng sự (2001) giải thích chất lượng hệ thống thông tin là các tính năng và đặc điểm riêng biệt của một hệ thống góp phần mang lại lợi ích mong đợi và thỏa mãn nhu cầu nhận thức. Chất lượng hệ thống thông tin được đo bằng chất lượng thông tin, tính dễ sử dụng của công nghệ, chất lượng hệ thống, hỗ trợ do hệ thống thông tin nội bộ cung cấp và sự hài lòng của người dùng, việc sử dụng một hệ thống thông tin giúp người sử dụng cảm nhận được chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, chất lượng dịch vụ; đồng thời, sự hài lòng của người sử dụng sẽ tác động tích cực đến cảm nhận về chất lượng do hệ thống mang đến (DeLone và McLean, 1992, 2003).
Chất lượng hệ thống thông tin trong nghiên cứu này ảnh hưởng đến Nhận thức tính hữu ích, sự xác nhận và Nhận thức dễ sử dụng của các bác sĩ khi sử dụng Bệnh án điện tử. Còn trong mô hình xác nhận - kỳ vọng (Expectation - Confirmation model), sự xác nhận là yếu tố quan trọng dự đoán sự hài lòng của khách hàng trong nhiều bối cảnh công nghệ khác nhau (Bhattacherjee, 2001). Mối quan hệ giữa sự xác nhận và sự hài lòng sẽ có thể xảy ra. Khi người dùng có được xác nhận tích cực về kỳ vọng của họ sau khi sử dụng, nhận thức về kỳ vọng - xác nhận sau đó liên kết với trạng thái tâm lý tích cực (sự hài lòng).
Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy rằng khách hàng hài lòng khi kỳ vọng sử dụng dịch vụ của họ được đáp ứng hoặc xác nhận của họ đạt được (Foroughi và cộng sự, 2019; Rahi & Ghani, 2019; Susanto và cộng sự, 2016). Ngoài ra, mô hình xác nhận - kỳ vọng giả định rằng nhận thức hữu ích, một biến quan trọng của TAM, được cải thiện nhờ trải nghiệm xác nhận. Ở giai đoạn chấp nhận 10 sử dụng, nhận thức hữu ích của khách hàng đối với công nghệ mới có thể không rõ ràng do sự không chắc chắn về kỳ vọng từ việc sử dụng. Tuy nhiên, trải nghiệm xác nhận có thể điều chỉnh nhận thức đó lên một mức độ cao hơn khi khách hàng xét thấy nhận thức hữu ích ban đầu của họ ở giai đoạn chấp nhận thấp không còn phù hợp với thực tế (Bhattacherjee, 2001).
Cùng với lập luận từ Bhattacherjee (2001), một số nghiên cứu trước cũng đã chứng minh xác nhận có tác động tích cực đến nhận thức hữu ích (Susanto và cộng sự, 2016; Wang & Wang, 2019; Zhou và cộng sự, 2018) Trong nghiên cứu này, Khi các Bác sĩ có được xác nhận tích cực về kỳ vọng của họ sau khi sử dụng bệnh án điện tử sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng, nhận thức hữu ích, nhận thức dễ sử dụng.6 Cảm nhận hữu ích (Perceived usefulness-PU) Tính hữu ích là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một hệ thống công nghệ thông tin cụ thể sẽ nâng cao hiệu quả công việc của họ (Davis, 1989). Người dùng có thể tiếp tục sử dụng nếu họ thấy nó hữu ích, ngay cả khi họ không hài lòng với việc sử dụng trước đó của họ (Bhattacherjee, 2001a). Bệnh án điện tử là hữu ích nếu nó cung cấp cho các Bác sĩ chi tiết về dữ liệu hỗ trợ việc chẩn đoán, điều trị, giảm bớt sai sót chuyên môn thông qua các tính năng hỗ trợ ra quyết định, tinh giảm các quy trình làm việc lâm sàng, từ đó tiết kiệm thời gian. Ngoài ra, bệnh viện sẽ tiết kiệm được chi phí in ấn, không gian lưu trữ hồ sơ, bệnh án.7 Cảm nhận dễ sử dụng (Perceived ease of use - PEOU) Cảm nhận dễ sử dụng là “Mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống cụ thể sẽ không tốn nhiều công sức” (Davis, 1989, tr.