Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Theo Gronroos (1990): “dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ, nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng” [19]. Còn theo Zeithaml and Britner (2000): “dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc như cung cấp, hỗ trợ và tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của khách hàng nhằm làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” [28]. Nghiên cứu của Philip Kotler (2000) thì cho rằng: “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể có hoặc không gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” [21].
Theo Kotler và cộng sự (2009): “dịch vụ có thể được hiểu là bất kỳ một hành động hoặc việc thực hiện nào mà một cá nhân, tổ chức cung cấp cho người khác mà những hành động đó về cơ bản là vô hình và không đưa đến quyền sở hữu của bất kỳ vật chất nào” [22, p. Tóm lại, dịch vụ là một quá trình mà trong đó bao gồm các hoạt động hoặc các chuỗi hoạt động mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ có sự tương tác, trao đổi lẫn nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo cái mà khách hàng mong đợi và không mang hình thức trao đổi quyền sở hữu mà chỉ tạo ra giá trị về nhu cầu cho khách hàng. Khái niệm dịch vụ công Theo World Bank (1997), dịch vụ công hầu hết là hàng hóa và dịch vụ không thuần khiết, mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước, các tổ chức tư nhân, xã hội. Việc cung cấp các dịch vụ công rất linh hoạt, nhưng còn phụ thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền, có thể miễn phí hoặc tính phí [27].
Theo Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2010): “dịch vụ công là hoạt động phục vụ các nhu cầu chung thiết yếu, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do các cơ quan nhà nước thực hiện hoặc ủy nhiệm cho các tổ chức phi nhà nước” [5, tr. Theo United Nations Development Programme (UNDP) (2009): “dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc chuyển giao cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và cân bằng” [17]. Dịch vụ công do nhà nước thực hiện và chịu trách nhiệm trước xã hội, nhằm phục vụ lợi ích, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nhà nước nắm vai trò chủ đạo trong thực hiện dịch vụ công nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quá trình cung ứng dịch vụ.
Khái niệm hành chính công Theo Nguyễn Ngọc Hiến và cộng sự (2006): “hành chính theo nghĩa rộng là chỉ những hoạt động, những tiến trình chủ yếu có liên quan đến những biện pháp để thực thi các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trước. Khi có từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau, thì lúc đó xuất hiện một hình thức thô sơ của quản lý. Dạng quản lý này chính là hoạt động hành chính, hay nói cách khác, hành chính là một dạng của quản lý. Hay theo nghĩa hẹp, hành chính là những hoạt động quản lý các công việc của nhà nước, xuất hiện cùng với nhà nước” [6].
Theo Nguyễn Như Phát (2002): “hành chính công có thể hiểu là một dạng hoạt động mang tính nhà nước không thuộc hoạt động lập pháp hay xét xử. Hành chính công là hoạt động ban hành các văn bản hành chính và việc thực hiện các hành vi hành chính, vì lợi ích chung và mục đích chung, không theo đuổi lợi ích riêng, không nhằm mục đích lợi nhuận và do các chủ thể quyền lực công các cấp và 9 Luan van các tổ chức tự nguyện không nằm trong bộ máy nhà nước nhưng được thành lập và hoạt động theo pháp luật thực hiện” [12]. Hành chính công bao gồm luật pháp, các quy tắc, thiết chế… để điều tiết hoạt động quyền hành pháp và cả đội ngũ CBCC được nhà nước giao quyền thực thi công vụ trên cơ sở các quy định của pháp luật. Khái niệm dịch vụ hành chính công Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ quy định: “DVHCC là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý” [1, tr.
Như vậy, DVHCC là những hoạt động phục vụ quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và người dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của nhà nước. Lê Chi Mai (2006) cho rằng: “DVHCC là loại hình dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp phục vụ yêu cầu cụ thể của người dân và tổ chức dựa trên quy định của pháp luật. Các công việc do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nằm trong phạm trù dịch vụ công, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và người dân, trong mối quan hệ này người dân thực hiện dịch vụ không có quyền lựa chọn mà phải nhận những dịch vụ bắt buộc do nhà nước quy định” [9]. Đỗ Đình Nam (2010) cho rằng: “DVHCC là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước để đáp ứng những yêu cầu của người dân.
Và được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, bằng giá trên thị trường, mà sẽ đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước” [10]. Theo Nguyễn Hữu Hải & Lê Văn Hòa (2010): “DVHCC là hoạt động do các tổ chức hành chính thực hiện liên quan đến việc phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và phục vụ việc quản lý nhà nước. Về cơ bản dịch vụ này do cơ quan nhà nước thực hiện” [5]. 10 Luan van Các DVHCC được cung ứng thể hiện ở chủ thể cung ứng và số lượng, chất lượng dịch vụ cung ứng.
Khi trình độ sản xuất còn thấp, nhu cầu về DVHCC của người dân chưa cao và còn đơn giản, nhà nước là chủ thể chủ yếu có trách nhiệm và nguồn lực cung ứng DVHCC cho xã hội mà không có sự tham gia của thị trường, khu vực tư nhân. Nhà nước cung cấp hầu hết các DVHCC, bảo đảm cho tất cả mọi người dân đều được thụ hưởng các DVHCC do mình cung ứng. Khi trình độ sản xuất phát triển đòi hỏi sự tham gia của tư nhân là rất cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và tạo ra sự cạnh tranh giữa các chủ thể cung cấp. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm cho đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và người dân sẵn sàng bỏ tiền ra để được phục vụ tốt hơn, mức độ hưởng thụ DVHCC của các tầng lớp dân cư cũng sẽ trở nên đa dạng hơn, đòi hỏi nhà nước phải linh động trong việc đáp ứng các yêu cầu của người dân theo tinh thần nhà nước phục vụ.
Ngoài việc đảm bảo sự bình đẳng trong cung cấp DVHCC đối với số đông dân cư thì nhà nước cũng cần phải tạo ra sự đa dạng về các loại DVHCC để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người dân. DVHCC trong lĩnh vực công chứng, chứng thực và nhà đất là thể hiện rõ nhất của sự đa dạng về chủ thể cung ứng hiện nay. Đây là những lĩnh vực đang được khuyến khích xã hội hóa theo quy định của Chính phủ. Sự đa dạng DVHCC còn thể hiện ở chỗ, ngoài việc cung cấp tại bộ phận trực tiếp, phải đa dạng thêm giải quyết trực tuyến dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin theo mức độ ngày càng cao; và hiện nay các dịch vụ hành chính công trực tuyến được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng ở 4 mức độ theo Nghị định 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước.
Tóm lại, DVHCC là các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho người dân theo những quy định của pháp luật và không nhằm mục đích lợi 11 Luan van nhuận. Trong đó, công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải nhận những dịch vụ bắt buộc theo các quy định của pháp luật. Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ hành chính công Mức độ hiện đại trong quá trình tạo ra các sản phẩm DVHCC là khả năng cung cấp dịch vụ cho người sử dụng một cách linh hoạt và nhanh chóng: người dân yêu cầu các tổ chức cung ứng DVHCC đáp ứng nhu cầu thực sự và cụ thể của họ. Điều quan trọng cần nhấn mạnh rằng dịch vụ căn cứ vào kết quả giao dịch, thương lượng giữa các bên có liên quan.
Ý kiến của người dân và tổ chức phải được tiếp thu, xem xét và tôn trọng. Các thủ tục hành chính phải được rà soát thường xuyên nhằm loại bỏ những thủ tục không còn phù hợp, cũng như rút ngắn thời gian, quy trình thực hiện. Sự tiện lợi trong việc tiếp cận và cách thức cung cấp DVHCC: các yếu tố cần lưu ý như vị trí của cơ quan cung ứng dịch vụ, thời gian mở cửa tiếp người dân và tổ chức có phù hợp với thời gian làm việc của họ, thời gian chờ trả kết quả, hoặc thời gian sử dụng dịch vụ, chi phí dịch vụ có phù hợp với nguồn lực tài chính của người dân và tổ chức hay không. Công khai minh bạch: chắc chắn, người dân và tổ chức phải biết người trực tiếp thụ lý hồ sơ của họ… Nói cách khác, người dân và tổ chức có thể liên hệ để nhận được hỗ trợ hoặc kiến nghị.
Việc niêm yết công khai các thông tin, văn bản hướng dẫn giúp họ thuận tiện hơn trong thực hiện giao dịch.